Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10 /2025/HS-ST

Ngày 20-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Văn Đích - Nghề nghiệp: Giáo viên hưu trí
  • Ông Nguyễn Văn Đời - Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên toà: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Tạ Đình H (tên gọi khác: Q), sinh ngày 23-01-2009 (khi phạm tội được 15 tuổi 01 tháng); nơi cư trú: Tổ A, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Tạ Thị H1, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • Ngày 10-4-2023, bị Công an phường H, quận L, TP . ra Quyết đinh xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
  • Ngày 04-01-2024, bị Công an quận S, TP . ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”;
  • Ngày 08-8-2024 (Bản án số 22/2024/HSST-CTN), bị Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10-4-2024 (đã có hiệu lực pháp luật).

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an thành phố Đ trong vụ án khác (Có mặt).

  1. Nguyễn Lê Thiện N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21-11-2006 (khi phạm tội được 17 tuổi 3 tháng 02 ngày); nơi cư trú: Tổ A, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị Q1, bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14-6-2024 (Bản án số 63/2024/HSST), bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

  1. Trần Đình T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 22/9/2007 (khi phạm tội được 16 tuổi 4 tháng); nơi cư trú: Số A V, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình P và bà Vũ Thị Hồng T1, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

* Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:

  1. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Tạ Đình H: Bà Tạ Thị H1, sinh năm 1989 (là mẹ ruột); địa chỉ: Tổ A, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt)
  2. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Lê Thiện N: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1975 (là cha ruột); địa chỉ: Tổ A, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
  3. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Đình T: Ông Trần Đình P, sinh năm 1974 (là cha ruột); địa chỉ: Số A V, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).

* Người bào chữa cho các bị cáo:

  1. Ông Võ Văn T2 - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đ bào chữa cho bị cáo Tạ Đình H (Có mặt).
  2. Ông Võ Văn T2 - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đ bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lê Thiện N (Có mặt).
  3. Bà Nguyễn Thị Quỳnh N1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước thành phố Đ bào chữa cho bị cáo Trần Đình T (Có mặt).

* Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1990; địa chỉ: Số D A, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
  2. Nguyễn Hữu Anh K, sinh ngày 17/6/2011; địa chỉ: K N, tổ B, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
  3. Nguyễn Bảo H2, sinh ngày 10/7/2011; địa chỉ: Số I L, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

  1. Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Hữu Anh K: Bà Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1980; địa chỉ: K N, tổ B, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
  2. Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Bảo H2: Bà Phạm Thị T4, sinh năm 1977; địa chỉ: Số I L, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Trọng B, sinh ngày 21/3/2010; địa chỉ: Chung cư D, P, tổ B, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
  2. Trần Võ Hoàng P1, sinh ngày 23/8/2011; địa chỉ: K P, tổ D, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có đơn xét xử vắng mặt).
  3. Phan Văn Đ, sinh ngày 05/11/2007; địa chỉ: K T, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có đơn xét xử vắng mặt).
  4. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ A, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).

* Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Trọng B: Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1977; địa chỉ: Chung cư D, P, tổ B, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
  2. Người đại diện hợp pháp của Trần Võ Hoàng P1: Bà Võ Thị Kim Y, sinh năm 1992; địa chỉ: K P, tổ D, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có đơn xét xử vắng mặt).
  3. Người đại diện hợp pháp của Phan Văn Đ: Bà Trương Thị Thanh H3, sinh năm 1984; địa chỉ: K T, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có đơn xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 23/02/2024, Nguyễn Trọng B (sinh ngày 21/3/2010; trú: Chung cư A, phường D, phường T, quận S, TP.) cùng Trần Võ Hoàng P1 (sinh ngày 23/8/2011; trú: K P, phường M, quận S, TP .) rủ nhau đi bộ quanh các khu vực tại quận S tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến trước quán N2 tại số A đường T, phường N, quận S, TP . do bà Nguyễn Thị T3 (sinh năm 1990; trú: số D A, phường A, quận S, TP .) làm chủ thì cả hai thống nhất đột nhập vào quán để trộm cắp. B và P1 đi ra phía sau quán rồi trèo qua cửa sổ nhảy vào trong quán, cả hai đi đến quầy thu ngân lục lọi tìm tài sản, B tìm thấy 01 hộp màu xanh trắng để trên quầy thu ngân (là hộp đựng tiền “tip” của khách) bên trong có nhiều tờ tiền có nhiều mệnh giá (B không đếm số tiền có trong hộp, theo lời khai của bà T3 thì hộp đựng tiền này có số tiền khoảng 3.000.000 đồng) nên lấy trộm. Sau đó, B phát hiện thấy một hộc tủ tính tiền kết nối với máy Pos tính tiền đang bị khóa tại quầy tính tiền nên B cố gắng đập phá hộc tủ đó nhưng không được. B và P1 thống nhất mang hộc tủ tính tiền đến gần cầu S rồi cả hai phá hộc tủ lấy được thêm 01 cộc tiền (B và P1 không đếm số tiền có trong hộc tủ, theo lời khai của bà Nguyễn Thị T3 thì bên trong hộc cất tiền này chứa khoảng hơn 30.000.000 đồng). Toàn bộ số tiền đã trộm cắp được B cất giữ, chỉ đưa cho P1 200.000 đồng. Sau đó B và P1 tách nhau ra, P1 đi về

nhà còn B tiếp tục đi bộ đến trường tiểu học Q2, phường M, quận S, TP . thì gặp Nguyễn Hữu Anh K (sinh ngày 17/06/2011; trú: tổ B, phường M, quận S, TP .) và Nguyễn Bảo H2 (sinh ngày 10/7/2010; trú: I L, phường M, quận S, TP .). Do sợ bị người dân phát hiện việc trộm cắp tài sản nên B đưa cộc tiền vừa trộm cắp được cho K và nhờ K giữ giúp, K cầm cộc tiền đưa cho H2 5.000.000 đồng để H2 cất giữ, số tiền còn lại Khoa cất trong túi quần bên trái (không rõ bao nhiêu). Sau đó, K chở H2 đi dạo trên đường H đến đoạn Công viên C thuộc phường P thì H2 và K gặp Tạ Đình H điều khiển xe mô tô hiệu Winner màu xanh trắng chở theo Trần Đình T và Nguyễn Lê Thiện N đi theo hướng ngược lại. H thấy vậy nên quay đầu xe đuổi theo K và H2 thì N và T hỏi “cái chi rứa, cái chi rửa” thì H trả lời “để em di theo chiếc xe Wave Alpha trắng xem là ai”. H chở T và N chạy đuổi theo H2 và K và nói lớn “dừng lại, dừng lại” nhưng K và H2 vẫn cho xe chạy thì H tăng ga ép sát xe H2 và K vào lề bên trái đường H Lúc này tất cả đều ngồi trên xe thì H hỏi “bây đi ăn cắp phải không”, K trả lời “mô, em mới đi chơi về”. Biết K nói láo nên H tự ý thò tay vào túi quần của K để lục lọi, H thò tay vào túi quần phải của K thấy có 01 điện thoại di động của K nên H không lấy, tiếp tục H thò tay vào túi quần trái của K thì thấy có cọc tiền mà B nhờ K giữ giúp lúc nãy, K có giữ tay H lại và nói “thôi anh Q” nhưng H vẫn lấy tiền ra khỏi túi K và nói lớn “tiền đâu nhiều đây” thì K và H2 trả lời “tiền tết của bọn em”, H tiếp tục nói lớn tiếng “bây nói láo” rồi hất tay K ra. Do K và H2 biết số tiền này do B trộm cắp mà có, sợ H sẽ báo công an, đồng thời nhiều lần trước đó K và H2 có bị H đe dọa, ức hiếp nên khi H nói to tiếng thì K và H2 đứng im, để H lấy tiền bỏ đi nhưng không dám đuổi theo đòi lại tiền. H điều khiển xe chở theo T và N đến khu vực sau trường THPT S thì H dừng lại móc tiền ra và cho T, N mỗi người 9.000.000 đồng, còn H cất giữ 9.400.000 đồng. K và H2 quay xe đi về gặp và báo với B là vừa bị H lấy hết tiền chỉ còn 5.000.000 đồng (do H2 cất giữ). B lấy số tiền này chia cho K và H2 mỗi người 1.500.000 đồng. Sau đó, B có đưa cho Phan Văn Đ (sinh ngày 05/11/2007; trú: K đường T, phường M, quận S, TP.) 1.000.000 đồng nói là tiền cá nhân nhờ Đ cất giúp, do không biết tiền này là do B trộm cắp mà có nên Đại đồng ý cất giúp B. Số tiền 1.000.000 đồng còn lại B tiêu xài hết.

Sau khi chiếm đoạt 27.400.000 đồng của K và cho T, N 18.000.000 đồng, H sử dụng số tiền 9.400.000 đồng còn lại để mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh tại tiệm Đ1 gần Chợ M (cơ quan điều tra đã xác minh, kết quả quanh khu vực Chợ M không có tiệm điện thoại K), phường T, quận S với số tiền 4.600.000 đồng; mua 01 lắc bạc, 01 nhẫn bạc tại một tiệm vàng bạc khu vực chợ A1, quận S với số tiền 900.000 đồng; trả nợ cho bạn (là bạn quen biết ngoài xã hội, không rõ lai lịch) số tiền 1.800.000 đồng, tiêu xài còn dư lại 400.000 đồng thì bị công an thu giữ. Trần Đình T, Nguyễn Lê Thiện N chưa sử dụng số tiền được H cho, đã tự nguyện nộp lại tổng số tiền 18.000.000 đồng cho cơ quan công an.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hữu Anh K đã tự nguyện giao nộp số tiền 1.240.000 đồng - là tiền được Nguyễn Trọng B chia cho còn lại. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Tường V (sinh năm 1980; trú: tổ B, phường M, quận S, TP ., mẹ của K) cũng đã tự nguyện giao nộp 260.000 đồng để khắc phục hậu quả cho K. Nguyễn Bảo H2 đã tự nguyện giao nộp 1.010.000 đồng là tiền được Nguyễn Trọng B chia cho còn lại. Cơ

quan công an thu giữ của Phan Văn Đ 1.790.000 đồng, trong đó có 1.000.000 đồng là tiền B nhờ Đ cất giữ giúp, 90.000 đồng là tiền cá nhân của Đ, 700.000 đồng là tiền cá nhân của K (tại thời điểm bị Công an triệu tập làm việc, K đưa cho Đ 700.000 đồng).

Bà Nguyễn Thị T3 khai hộc tủ tính tiền kết nối với máy Pos tính tiền mua đã lâu, không còn giá trị sử dụng nên không yêu cầu định giá, không yêu cầu bồi thường.

* Tang vật thu giữ:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh, số imel: 353986105992641, đã qua sử dụng; 01 nhẫn kim loại, màu trắng bạc; 01 vòng đeo tay bằng kim loại, màu trắng bạc; 400.000 đồng (thu giữ từ T);
  • 9.000.000 đồng (thu giữ từ T);
  • 9.000.000 đồng (thu giữ từ Nguyễn Lê Thiện N);
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen; 1.500.000 đồng (thu giữ từ N);
  • 1.010.000 đồng (thu giữ từ Nguyễn Bảo H2);
  • 1.790.000 đồng (thu giữ từ Phan Văn Đ).

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 627/KLGĐ ngày 15/4/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền trung đối với Nguyễn Lê Thiện N xác định:

  • Trước thời điểm gây án:
    • a/ Về y học: C2 (F71).
    • b/ Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
  • Tại thời điểm gây án:
    • a/ Về y học: C2 (F71).
    • b/ Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
  • Thời điểm hiện tại:
    • a/ Về y học: C2 (F71).
    • b/ Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Đối với xe mô tô hiệu Winner màu xanh trắng Tạ Đình H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, qua điều tra xác định xe này do ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1975; trú: tổ A, phường M, quận S, TP ., cha ruột của Nguyễn Lê Thiện N) mua lại của một người trên mạng xã hội vào khoảng tháng 10/2023 (xe có giấy tờ đầy đủ) nhưng ông C không nhớ biển số xe. Ngày 23/02/2024, N sử dụng xe này để đi chơi và vi phạm pháp luật thì ông C không biết. Sau đó, ông C đã bán lại xe này cho một người trên mạng xã hội (không rõ lai lịch).

Về bồi thường dân sự: Bà Nguyễn Thị T3 khai nhận bị mất tổng số tiền 32.600.000 đồng, đến nay cơ quan điều tra thu hồi được số tiền 21.910.000 đồng (là tiền các bị cáo và người liên quan giao nộp liên quan đến hành vi phạm tội) và đã trả lại cho bà T3. Bà T3 tiếp tục yêu cầu Nguyễn Trọng B và Trần Võ Hoàng P1 bồi thường số tiền 10.690.000 đồng.

Nguyễn Bảo H2 và Nguyễn Hữu Anh K không yêu cầu Tạ Đình H bồi thường.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 26/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà truy tố bị cáo Tạ Đình H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn Lê Thiện N và Trần Đình T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Tạ Đình H từ 21 tháng đến 24 tháng tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của Bản án số 22/2024/HSST-CTN ngày 08-8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Thiện Nhân T6 06 tháng đến 09 tháng tù.

Ngày 14/6/2024, N bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà tuyên phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng (theo bản án số 63/2024/HSST) đối với hành vi phạm tội ngày 21/5/2023. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 8 năm 2018, ở lần xét xử này không tổng hợp hình phạt đối với bị cáo N, buộc bị cáo N phải chấp hành đồng thời hai bản án.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Đình T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.

Về bồi thường dân sự: Bà Nguyễn Thị T3 tiếp tục yêu cầu Nguyễn Trọng B và Trần Võ Hoàng P1 bồi thường số tiền 10.690.000 đồng. Xét thấy yêu cầu này là phù hợp nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX:

  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh, số imel: 353986105992641, đã qua sử dụng; 01 nhẫn kim loại, màu trắng bạc; 01 vòng đeo tay bằng kim loại, màu trắng bạc thu giữ từ Tạ Đình H có được từ việc B và P1 trộm cắp của T3 mà có nên quy trữ để đảm bảo thi hành án đối với bà T3 cho B và P1.
  • Đối với số tiền 490.000 đồng mà H2 có được từ việc phạm tội của B và P1 yêu cầu H2 nộp lại để đảm bảo thi hành án đối với bà T3 cho B và P1.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen thu giữ từ Nguyễn Hữu A Khoa là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho K.
  • Đối với số tiền 790.000 đồng thu giữ từ Phan Văn Đ, trong đó 90.000 đồng là tiền cá nhân của Đ nên đề nghị trả lại cho Đ; 700.000 đồng là tiền cá nhân của K nên đề nghị trả lại cho K.

* Các bị cáo trình bày: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

* Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị: Những người bào chữa cho các bị cáo đều thống nhất về tội danh, điểm, khoản, điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đã truy tố đối với các bị cáo, thống nhất cùng quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Tuy nhiên, những người bào chữa đề nghị xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị xem xét đến khả năng nhận thức của các bị cáo còn hạn chế, xem xét đến nguyên nhân cũng như mục đích phạm tội của các bị cáo. Cuối cùng những người bào chữa đề nghị xử phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát để đảm bảo lợi ích tốt nhất, nhằm giáo dục các bị cáo sửa chữa sai lầm, giúp đỡ các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Người đại diện hợp pháp của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo tuổi đời còn trẻ, suy nghĩ và hành động chưa chín chắn, bốc đồng, đề nghị xem xét xử cho các bị cáo một mức hình phạt thấp nhất, tạo điều kiện để các bị cáo hòa nhập công đồng.

Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng các bị cáo đều nhận thức được hành vi sai trái, ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận: Khoảng 2 giờ ngày 23/02/2024, tại đường H, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng, Tạ Đình H đã có hành vi to tiếng uy hiếp tinh thần của Nguyễn Hữu Anh K và Nguyễn Bảo H2 (đều là người dưới 16 tuổi) để chiếm đoạt số tiền 27.400.000 đồng của K. Sau đó, H mang số tiền vừa chiếm đoạt được cho Nguyễn Lê Thiện N và Trần Đình T mỗi người 9.000.000 đồng. Mặc dù biết được số tiền H cho là do phạm tội mà có nhưng T và N vẫn đồng ý tiêu thụ số tiền này. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận, bị cáo Tạ Đình H đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn Lê Thiện N, Trần Đình T đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo là những thanh niên mới lớn, có tuổi đời còn nhỏ, lẽ ra ở độ tuổi này các bị cáo phải chăm lo học tập, nhưng do lười lao động muốn có tiền tiêu xài đã thực hiện hành vi phạm tội.

[3.1] Trong vụ án này, đối với bị cáo Tạ Đình H đã lợi dụng vào việc các bị hại K và H2 sợ bị cáo báo cơ quan Công an về số tiền do B trộm cắp trước đó mà có nên đã uy hiếp tinh thần để thực hiện hành vi cưỡng đoạt số tiền 27.400.000 đồng của các bị hại rồi chia cho Nguyễn Lê Thiện N và Trần Đình T. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 10-4-2023 bị Công an phường H xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 04-01-2024, bị Công an quận S, xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” và ngày 08-8-2024, bị Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”. Do vậy, cần phải quyết định một mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo.

[3.2] Đối với các bị cáo Nguyễn Lê Thiện N và Trần Đình T thì thấy: Quá trình thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản của bị cáo H có chở theo bị cáo N và T, cả hai chỉ ngồi sau xe của H và không có thái độ hay hành động gì, chỉ ngồi sau im lặng chứng kiến sự việc xảy ra, đồng thời trước lúc xảy ra sự việc thì H, N, T không có thống nhất bàn bạc với nhau từ trước, mà chỉ một mình H bất chợt nảy sinh ý định thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể trong lúc H chở K và H2 đi dạo trên đường thì H thấy K chở H2 trên xe mấy, do có quen biết K và H2 từ trước nên ngay lúc đó H nảy sinh ý định đuổi theo K và H2 để hỏi có tiền không và cưỡng đoạt tài sản, lúc tăng ga đuổi theo K và H2 thì N và T có hỏi H là “Cái chi rứa, cái chi rứa" thì H trả lời là “để em di theo chiếc Wave Alpha trắng xem là ai" chứ không nói mục đích của mình là chặn xe cưỡng đoạt tài sản, đồng thời trong quá trình H nói chuyện và lấy tiền của K thì cả T và N đều không có thái độ hay hành động gì giúp sức cho H. Sau khi H lấy được tiền của K với tổng số tiền là 27.400.000 đồng thì có chia cho T và N mỗi người 9.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân, mặc dù biết đây là tiền do H phạm tội mà có nhưng bị cáo N và T vẫn nhận với mục đích để sử dụng cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo N và T đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Bị cáo N có nhân thân xấu ngày 14-6-2024, bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do đó, cần xử phạt bị cáo N và T một mức án tương xứng đủ để răn đe và giáo dục các bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Lê Thiện N là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, gia đình có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q khoản 1 khoản 2

Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Đình T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo khi phạm tội đều là người dưới 18 tuổi, còn hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.

[6] Về biện pháp chấp hành pháp luật:

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Tạ Đình H và Nguyễn Lê Thiện N ra khỏi xã hội một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Trần Đình T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, từ trước đến nay có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và có nơi cư trú rõ ràng, nghĩ nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo về địa phương quản lý giáo dục cũng thỏa đáng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tại bản án số 22/2024/HSST-CTN ngày 08-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt bị cáo Tạ Đình H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người” đã có hiệu lực pháp luật. Nên đối với bị cáo Hoàng C1 áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này.

Đối với hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Nguyễn Lê Thiện N: Ngày 14/6/2024, N bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà tuyên phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” (theo bản án số 63/2024/HSST) đối với hành vi phạm tội ngày 21/5/2023. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, ở lần xét xử này không tổng hợp hình phạt đối với bị cáo N. Buộc bị cáo N phải chấp hành đồng thời hai bản án.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

[8.1] Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Hữu Anh K không yêu cầu bị cáo Tạ Đình H bồi thường và bị hại Nguyễn Bảo H2 vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện H2 không yêu cầu bị cáo H bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[8.2] Đối với bà Nguyễn Thị T3 tại phiên tòa vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện bà bị mất tổng số tiền 32.600.000 đồng, đến nay cơ quan điều tra thu hồi được số tiền 21.910.000 đồng (là tiền các bị cáo và người liên quan giao nộp liên quan đến hành vi phạm tội cụ thể: Tạ Đình H 400.000 đồng, Trần Đình T 9.000.000 đồng, Nguyễn Lê Thiện N 9.000.000 đồng, Nguyễn Hữu A Khoa 1.500.000 đồng, Nguyễn Bảo H2 1.010.000 đồng, Phan Văn Đ 1.000.000 đồng) và đã trả lại cho bà T3. Bà T3 tiếp tục yêu cầu Nguyễn Trọng B và Trần Võ Hoàng P1 bồi thường số tiền 10.690.000 đồng.

Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị T3 thì thấy hoàn toàn chính đáng, phù hợp với Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận. Do đó, cần buộc người liên quan phải liên đới bồi thường. Cụ thể:

[8.2.1] Nguyễn Trọng B bồi thường cho bà Nguyễn Thị T3 5.345.000 đồng. (Do B là người chưa đủ 18 tuổi và không có tài sản riêng nên cha của B là ông Nguyễn Văn T5 phải nộp thay).

[8.2.2] Trần Võ Hoàng P1 bồi thường cho bà Nguyễn Thị T3 5.345.000 đồng. (Do P1 là người chưa đủ 18 tuổi và không có tài sản riêng nên mẹ của P1 là bà Võ Thị Kim Y phải nộp thay).

[9] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh, số imel: 353986105992641, đã qua sử dụng; 01 nhẫn kim loại, màu trắng bạc; 01 vòng đeo tay bằng kim loại, màu trắng bạc thu giữ từ Tạ Đình H có được từ việc B và P1 trộm cắp của T3 mà có nên quy trữ để đảm bảo thi hành án đối với bà T3 cho B và P1.

Đối với số tiền 490.000 đồng mà H2 có được từ việc phạm tội của B và P1 yêu cầu H2 nộp lại để đảm bảo thi hành án đối với bà T3 cho B và P1.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen thu giữ từ Nguyễn Hữu A Khoa là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho K.

Đối với số tiền 790.000 đồng thu giữ từ Phan Văn Đ, trong đó 90.000 đồng là tiền cá nhân của Đ nên trả lại cho Đ và 700.000 đồng là tiền cá nhân của K nên trả lại cho K.

Đối với xe mô tô hiệu Winner màu xanh trắng Tạ Đình H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, qua điều tra xác định xe này do ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1975; trú: tổ A, phường M, quận S, TP ., cha ruột của Nguyễn Lê Thiện N) mua lại của một người trên mạng xã hội vào khoảng tháng 10/2023 (xe có giấy tờ đầy đủ) nhưng ông C không nhớ biển số xe. Ngày 23/02/2024, N sử dụng xe này để đi chơi và vi phạm pháp luật thì ông C không biết. Sau đó, ông C đã bán lại xe này cho một người trên mạng xã hội không rõ lai lịch nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi của Nguyễn Trọng B và Trần Võ Hoàng P1, do tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, B được 13 tuổi 11 tháng 02 ngày, P1 được 12 tuổi 6 tháng đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật hình sự nên Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập xử lý B và P1 là có cơ sở.

Đối với Nguyễn Bảo H2 và Nguyễn Hữu Anh K, mặc dù biết tiền Nguyễn Trọng B đưa cất giữ là do trộm cắp mà có, tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi, H2 được 13 tuổi 7 tháng 13 ngày, K được 12 tuổi 8 tháng 06 ngày đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật hình sự nên Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập xử lý H2 và K là có cơ sở.

Đối với hành vi của Phan Văn Đ, khi Đ cất tiền giúp Nguyễn Trọng B thì Đ không biết tiền B đưa là do trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập xử lý Đ là phù hợp.

[10] Về án phí:

Án phí HS-ST: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án phí DS-ST: Ông Nguyễn Văn T5 (cha của Nguyễn Trọng B) phải chịu 300.000 đồng; Bà Võ Thị Kim Y (mẹ của Trần Võ Hoàng P1) phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Tuyên bố: Bị cáo Tạ Đình H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”; các bị cáo Nguyễn Lê Thiện N và Trần Đình T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Tạ Đình H 02 (hai) năm tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HSST-CTN ngày 08-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Buộc bị cáo Tạ Đình H chấp hành hình phạt của hai bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 10-4-2024.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Lê Thiện Nhân từ I (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-8-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao không tổng hợp hình phạt bản án hình sự sơ thẩm số 63/2024/HSST ngày 14-6-2024 của Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Buộc bị cáo N phải chấp hành đồng thời hai bản án. Việc thi hành án do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Trần Đình T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 20/02/2025.

Giao bị cáo Trần Đình T cho Ủy ban nhân dân phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

II. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

  • Quy trữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh, số imel: 353986105992641, đã qua sử dụng; 01 nhẫn kim loại, màu trắng bạc; 01 vòng đeo tay bằng kim loại, màu trắng bạc thu giữ từ T để đảm bảo thi hành án đối với bà T3 cho B và P1.
  • Truy thu Nguyễn Bảo H2 số tiền 490.000 đồng để đảm bảo thi hành án đối với bà T3 cho B và P1.

- Trả lại cho Nguyễn Hữu A Khoa 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong (máy không lên nguồn được).

- Trả lại cho Nguyễn Hữu A Khoa 700.000 đồng.

- Trả lại cho Phan Văn Đ 90.000 đồng

(Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30-12-2024 và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 30-12-2024).

III. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các điều 584, 585 586, 587, 589 Bộ luật dân sự.

Ông Nguyễn Văn T5 (cha của Nguyễn Trọng B) phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị T3 5.345.000 đồng

Bà Võ Thị Kim Y (mẹ của Trần Võ Hoàng P1) phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị T3 5.345.000 đồng

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị T3 yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Nguyễn Văn T5 và bà Võ Thị Kim Y còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

IV. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí HS-ST: Các bị cáo Tạ Đình H, Nguyễn Lê Thiện N và Trần Đình T mỗi người phải chịu 200.000 đồng.

Án phí DS-ST: Ông Nguyễn Văn T5 (cha của Nguyễn Trọng B) phải chịu 300.000 đồng; Bà Võ Thị Kim Y (mẹ của Trần Võ Hoàng P1) phải chịu 300.000 đồng.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Sơn Trà;
  • - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Công an quận Sơn Trà;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Nguyễn Quốc Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG về cưỡng đoạt tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Tạ Đình H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn Lê Thiện Nh và Trần Đình Th phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger