Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/DS-ST

Ngày 20/02/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Lê Đăng Thiện
  • 2. Ông Nguyễn Văn Sâm

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-DS ngày 24/01/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P (O);

Địa chỉ: D và D đường L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế T1 – Chức vụ: Giám đốc T4.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Hoàng Thế A, sinh năm 1983. Địa chỉ: Lô A P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Bị đơn: Anh Lê Hồng T2, sinh năm 1992 và chị Hoàng Thị H, sinh năm 1993; cùng địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là trình bày:

Giữa ngân hàng O và vợ chồng anh T2, chị H đã ký kết các giao dịch cụ thể như sau:

Ngày 14/12/2021 Ngân hàng O và anh T2, chị H đã ký kết hợp đồng tín dụng số 421/2021/HĐTD-OCB-CN, theo đó Ngân hàng OCB cho anh T2 và chị H vay số tiền 800.000.000 đ với mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 120 tháng.

Ngày 07/6/2022 Ngân hàng O và anh T2, chị H đã ký kết hợp đồng tín dụng số 0023/2022/HĐTD-OCB-CN, theo đó Ngân hàng OCB cho anh T2, chị H vay số tiền 500.000.000 đ với mục đích vay tiêu dùng.

Để đảm bảo cho các khoản nợ trên, hai bên đã ký kết hợp đồng thế chấp theo hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số 421/2021/BĐ ngày 14/12/2021 với tài sản thế chấp là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 897, tờ bản đồ số 6, diện tích 106 m2 tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, GCNQSDĐ số DD 388184, số vào sổ số CS 02730 do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 25/10/2021 mang tên Lê Hồng T2 và Hoàng Thị H.

Trong quá trình vay nợ, đến ngày 01/6/2024, anh T2 và chị H bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ, đôn đốc nhưng đến nay anh chị vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng yêu cầu anh T2 và chị H phải trả cho Ngân hàng O tổng số tiền tính đến ngày xét xử (20/02/2025) là 1.227.014.621 đ, trong đó nợ gốc là 1.105.699.992 đ và tiền lãi là 121.354.559 đ, trong đó lãi trong hạn là 54.268.128 đ và lãi quá hạn là 67.086.431 đ và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 21/02/2025 đến khi thanh toán xong.

Nếu anh T2 và chị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ thì Ngân hàng O có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp cho khoản vay nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, anh T2 và chi H trình bày: Anh chị hiện tại còn nợ khoản tiền như Ngân hàng O đã trình bày là đúng thực tế. Nhưng vì điều kiện kinh tế của vợ chồng gặp khó khăn nên chưa có để trả ngay cho Ngân hàng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn thực hiện chưa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 232; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117; Điều 299, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Lê Hồng T2 và chị Hoàng Thị H phải trả cho Ngân hàng O tổng số tiền tính đến ngày xét xử (20/02/2025) là 1.227.014.621 đ, trong đó tiền gốc là 1.105.699.992 đ và tiền lãi là 121.354.559 đ và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 21/02/2025 đến khi thanh toán xong khoản nợ; Về án phí: Anh T3 và chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; Trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm định tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP P và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Bị đơn cư trú tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên hòa hôm nay, bị đơn là anh Lê Hồng T2 và chị Hoàng Thị H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Xét các hợp đồng tín dụng số 421/2021/HĐTD-OCB-CN, ngày 14/12/2021 và hợp đồng tín dụng số 0023/2022/HĐTD-OCB-CN, ngày 07/6/2022 cùng các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, thấy rằng:

Các hợp đồng tín dụng nói trên được Ngân hàng TMCP P và anh Lê Hồng T2, chị Hoàng Thị H tự nguyện ký kết, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội. Do đó, các hợp đồng này có hiệu lực pháp luật và là cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa hai bên. Sau khi ký hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay theo hợp đồng tín dụng số 421/2021/HĐTD-OCB-CN là 800.000.000 đ và hợp đồng tín dụng số 0023/2022/HĐTD-OCB-CN là 500.000.000 đ. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng tính đến ngày 01/10/2024, anh T2, chị H mới trả được 194.300.008 đ tiền gốc và 241.411.715 đ tiền lãi. Như vậy, anh T2 và chị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng số 421/2021/HĐTD-OCB-CN và Điều 7 Hợp đồng tín dụng số 0023/2022/HĐTD-OCB-CN nói trên và tại các khoản 9, 10 Điều 1 của khế ước nhận nợ số 421/2021/KUNN-OCB-CN ngày 15/12/2021 và khoản 11 Điều 1 của khế ước nhận nợ số 0233/2023/KUNN-OCB-CN ngày 21/11/2023, nên việc từ ngày 01/10/2022 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn là đúng với quy định. Sau khi chuyển sang dư nợ quá hạn Ngân hàng thường xuyên đôn đốc thu hồi nợ nhưng anh T2, chị H vẫn không thanh toán đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Do anh T2, chị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng, nên việc Ngân hàng yêu cầu anh T2, chị H phải trả số tiền còn nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 117, 463, 466 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P buộc anh T2, chị H phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 1.105.699.992 đ.

Về yêu cầu tính lãi: Theo khế ước nhận nợ số 421/2021/KUNN-OCB-CN, các bên thỏa thuận lãi suất trong 03 tháng đầu là 10,5%/năm, từ tháng thứ 4 trở đi áp dụng dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần theo quy định tại HĐTD và KUNN, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Theo khế ước nhận nợ số 0233/2023/KUNN-OCB-CN, các bên thỏa thuận lãi suất trong 03 tháng đầu là 8,7%/năm, từ tháng thứ 4 trở đi áp dụng dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo quy định tại HĐTD và KUNN, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Xét thỏa thuận về lãi xuất của các đương sự phù hợp quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong quá trình thực hiện hợp đồng đến nay, anh T2, chị H mới trả lãi cho Ngân hàng được số tiền 241.411.715 đ, do đó buộc anh T2, chị H phải trả cho Ngân hàng tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử ( 20/02/2025) là 121.354.559 đ, trong đó lãi trong hạn là 54.268.128 đ và lãi quá hạn là 67.086.431 đ.

Tính đến ngày xét xử, tổng cộng cả gốc và lãi anh T2, chị H phải trả cho N hàng 1.227.014.621 đ.

[1] Xét yêu cầu của Ngân hàng buộc anh T2, chị H phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị đơn phải tiếp tục chịu lãi suất theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[2] Xét yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp để đảm bảo cho khoản vay:

Xét thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 421/2021/BĐ ngày 14/12/2021 giữa Ngân hàng TMCP P và anh T2, chị H để bảo đảm cho các hợp đồng tín dụng nêu trên là đúng theo quy định của pháp luật; nên yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng là có cơ sở để chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 299 của Bộ luật dân sự 2015 và Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024. Vì vậy, sau khi án có hiệu lực pháp luật, trường hợp anh T2, chị H không trả nợ, hoặc trả khôgn đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

[5]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí, nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 232; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 117; Điều 299, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP P,

Buộc anh Lê Hồng T2 và chị Hoàng Thị H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền tính đến ngày xét xử (20/02/2025) là 1.227.014.621 đ (một tỷ hai trăm hai mươi bảy triệu không trăm mười bốn nghìn sáu trăm hai mươi mốt đồng), trong đó tiền gốc là 1.105.699.992 đ (một tỷ một trăm linh năm triệu sáu trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi hai đồng), tiền lãi trong hạn là 54.268.128 đ (năm mươi tư triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn một trăm hai mươi tám đồng) và lãi quá hạn là 67.086.431 đ (sáu mươi bảy triệu không trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm ba mươi mốt đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, anh Lê Hồng T2 và chị Hoàng Thi H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 421/2021/HĐTD-OCB-CN, ngày 14/12/2021 và hợp đồng tín dụng số 0023/2022/HĐTD-OCB-CN, ngày 07/6/2022.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, nếu anh T2, chị H1 không trả được số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 421/2021/BĐ ngày 14/12/2021, gồm Quyền sử dụng đất và tài các sản gắn liền với đất tại thửa đất số 897, tờ bản đồ số 6, diện tích 106 m2 tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, GCNQSDĐ số DD 388184, số vào sổ số CS 02730 do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 25/10/2021 mang tên Lê Hồng T2 và Hoàng Thị H.

2. Về án phí: Anh Lê Hồng T2 và chị Hoàng Thị H phải chịu 48.810.000 đ (bốn mươi tám triệu tám trăm mười nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 23.408.000 đ (hai mươi ba triệu bốn trăm linh tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002836 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - VKSNDhuyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - P. kiểm tra nghệp vụ và THA,
  • TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Ngọc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 10/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: fg
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger