Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 20 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Nam

2. Ông Nguyễn Văn Hợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Hiếu - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST- HS, ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15 /2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1985

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1935 và bà Dương Thị H, sinh năm 1955; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1984 (Đã ly hôn), vợ hiện tại là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982, Có 03 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 33 ngày 24/4/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 03/3/2019, đã chấp hành xong Bản án, đã được xóa án tích. Tại Bản án số 33 ngày 18/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 03/3/2019, đã chấp hành xong Bản án, đã được xóa án tích. Tại Bản án số 168 ngày 15/6/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 03/3/2019, đã chấp hành xong Bản án, đã được xóa án tích. Tại Bản án số 19 ngày 26/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 03/3/2019, đã chấp hành xong Bản án, đã được xóa án tích. Tại Bản án số 67 ngày 07/8/2015, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chính của 05 bản trên là 05 năm 06 tháng, chấp hành xong án phạt tù ngày 03/3/2019, đã chấp hành xong Bản án, đã được xóa án tích.

Bị cáo Nguyễn Văn T bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988

Trú tại: Xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt)

- Người chứng kiến:

1. Anh Dương Văn S, sinh năm 1996

Trú tại: Xóm C, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt)

2. Anh Dương Văn B, sinh năm 1979

Trú tại: Xóm C, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 7 giờ ngày 14/10/2024, Nguyễn Văn T (là người nghiện ma tuý) một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Future X, biển kiểm soát 20G1-010.88 đi từ nhà tới khu vực phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy (Heroine) về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người đàn ông không quen biết, T hỏi và mua của người này được 09 gói Heroine với giá 850.000 đồng. Mua ma tuý xong, T cất giấu vào 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực đường bê tông thuộc xóm C, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác của Công an xã N yêu cầu kiểm tra, phát hiện, tạm giữ các vật chứng gồm: 09 gói nhỏ (gồm 07 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng đục; 01 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng; 01 gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa một nửa viên nén màu đỏ hồng), tất cả được niêm phong trong bì thư ký hiệu A; 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus màu trắng, hồng, máy cũ, đã qua sử dụng (niêm phong ký hiệu B); 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future - X màu xám, trắng, đen, biển kiểm soát 20G1-010.88 cùng 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, đã qua sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc, niêm phong các vật chứng đã tạm giữ, sau đó bàn giao vật chứng, hồ sơ cùng đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền.

Hồi 16 giờ cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T cùng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng đã tạm giữ của Nguyễn Văn T, kết quả: Mở bì thư niêm phong ký hiệu A bên trong có:

  • + 07 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng đục, cân khối lượng không bì được 0,679 gam và lấy toàn bộ làm mẫu giám định (niêm phong vào bì thư ký hiệu A1).
  • + 01 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, cân khối lượng không bì được 0,138 gam và lấy toàn bộ làm mẫu giám định (niêm phong vào bì thư ký hiệu A2).
  • + 01 gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa một nửa viên nén màu đỏ hồng, cân khối lượng không bì được 0,044 gam và lấy toàn bộ làm mẫu giám định (niêm phong vào bì thư ký hiệu A3).

Tại Kết luận giám định số 1111/KL-KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

  • + Mẫu chất bột dạng cục màu trắng đục trong bì niêm phong ký hiệu A1 là ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,679 gam.
  • + Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A2 là ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,138 gam.
  • + Mẫu mảnh viên nén màu đỏ hồng trong bì niêm phong ký hiệu A3 là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,044 gam.

Ngày 14/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 696, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T tại xóm T, xã X, huyện P nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.

Tiến hành kiểm tra dữ liệu trong điện thoại di động iPhone 6s Plus màu trắng, hồng, cũ, đã qua sử dụng đã tạm giữ của Nguyễn Văn T nhưng không phát hiện nội dung nào có liên quan đến vụ án.

Vật chứng của vụ án: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài có chữ “Hoàn trả 0,639 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Nguyễn Văn T, SN 1985”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài có chữ “Hoàn trả 0,118 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2 vụ Nguyễn Văn T, SN 1985”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A3, bên ngoài có chữ “Hoàn trả vỏ bao gói mẫu A3 vụ Nguyễn Văn T, SN 1985”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B1, bên trong có chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S Plus màu trắng, hồng, cũ đã qua sử dụng, số IMEI 05 số cuối là 90577 và vỏ phong bì ký hiệu B; 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đã qua sử dụng, thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn T được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình chở xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Future X (màu xám, trắng, đen), mang biển kiểm soát 20G1-010.88: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là Nguyễn Thị T1 (Sinh năm 1988; trú tại: Xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, là em gái ruột của T). Ngày 14/10/2024 T đã mượn xe của chị T1, T không nói cho chị T1 biết mục đích mượn xe để đi đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T1 quản lý, sử dụng.

Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKSPB, ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 30 đến 36 tháng tù.

Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong 0,639 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 (một) phong bì niêm phong 0,118 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2; 01 (một) phong bì niêm phong vỏ bao gói mẫu A3; 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đã qua sử dụng và vỏ phong bì ký hiệu B.

- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S Plus màu trắng, hồng, cũ đã qua sử dụng.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản bắt quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 14/10/2024, tại khu vực xóm C, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn T (là người nghiện ma túy) đã có hành vi cất giấu trên người 08 gói ma túy (loại Heroine) có tổng khối lượng 0,817 gam; 01 gói ma túy (loại Methamphetamine) có khối lượng 0,044 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang.

Xét, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên buộc phải nhận thức và biết được việc tàng trữ trái phép nhiều chất ma túy gồm 08 gói ma túy (loại Heroine) có tổng khối lượng 0,817 gam và 01 gói ma túy (loại Methamphetamine) có khối lượng 0,044 gam là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Nội dung Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)...

c) Heroine, Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng ... của các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;......…”

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác, hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo xuất thân từ gia đình lao động thuần nông, trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo đã nhiều lần bị xét xử bằng các bản án. Thế nhưng, bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu và coi thường pháp luật. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội Hội đồng xét xử xác định do bị cáo mắc nghiện ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015. Ngoài ra, bố đẻ của bị cáo là ông Nguyễn Văn M được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất, Huân chương kháng chiến hạng nhất, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Từ những căn cứ nêu trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc có một mức án tương xứng với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm do bị cáo gây ra.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy việc bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành, vật chứng không có giá trị gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài có chữ “Hoàn trả 0,639 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Nguyễn Văn T, SN 1985"; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài có chữ “Hoàn trả 0,118 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2 vụ Nguyễn Văn T, SN 1985”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A3, bên ngoài có chữ “Hoàn trả vỏ bao gói mẫu A3 vụ Nguyễn Văn T, SN 1985”; 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đã qua sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với vật chứng là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S Plus màu trắng, hồng, cũ đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo còn phải nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo.

[7]. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T, tại cơ quan điều tra T khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết. Quá trình điều tra xác minh không xác định được người đã bán ma túy cho T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ, xử lý.

[8]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

[9]. Cần áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.

[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.

[11]. Thông báo về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, pháp luật áp dụng:

  • - Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
  • - Điều 46,47 của Bộ luật hình sự và Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 14 tháng 10 năm 2024.

3. Ra Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4. Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1, bên ngoài bì thư có ghi "Hoàn trả 0,639 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Nguyễn Văn T, SN 1985"; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A2, bên ngoài bì thư có ghi "Hoàn trả 0,118 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2 vụ Nguyễn Văn T, SN 1985"; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A3, bên ngoài bì thư có ghi "Hoàn trả vỏ bao gói mẫu A3 vụ Nguyễn Văn T, SN 1985"; 01 (Một) Vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, đã qua sử dụng.
  • - Tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo: 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu B1, bên trong có chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng, hồng, cũ đã qua sử dụng, số IMEI: 90577 (Năm số cuối) và vỏ phong bì ký hiệu B.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/ 01/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm, nộp sung quỹ Nhà nước.

6. Thông báo quyền kháng cáo: Có mặt bị cáo (Nguyễn Văn T), báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND huyện Phú Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Bình;
  • - CQTHAHS Công an huyện Phú Bình;
  • - CC T.H.A DS huyện Phú Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger