Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 20 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mầm.

Ông Nguyễn Tấn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cái Nước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng Mơ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Kim N, sinh ngày 20/11/1993 tại thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Khóm T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu V và bà Lưu Thị V; chồng: Phan Văn T, con: 02 người; tiền án, tiền sự: Không; khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 28/10/2024; bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 22/8/2024, Nguyễn Kim N điều khiển xe mô tô (hiệu Honda, loại xe wave alpha màu đỏ, biển số kiểm soát 65AA-158.29) đi từ nhà ở khóm T, thị trấn C, huyện C đến cửa hàng tạp hóa “Trúc Hoài” của chị Nguyễn Thị S ở ấp C, xã T, huyện C để mua sữa và bánh cho con. Đến nơi, N đậu xe phía trước rồi đi vào bên trong cửa hàng để mua đồ; trong lúc chị S đang lấy bánh và sữa bán cho Nghi, thì N phát hiện trên kệ sữa có một cái túi vải màu xám, nhìn thấy dây kéo khóa của túi còn hở và thấy bên trong có đựng tiền nên N đã nảy sinh ý định lấy trộm số tiền trên. Nghi quan sát thấy chị S đang bán hàng cho khách, lợi dụng lúc không có ai nhìn thấy nên đã dùng tay kéo dây khóa của túi vải ra, lấy hết số tiền 9.368.000 đồng có trong túi và đem bỏ vào trong túi da của mình mang theo trên người. Sau đó, N tiếp tục nhìn thấy cặp bên túi vải của chị S có một cái ví có màu đỏ xanh, nghĩ trong ví có tài sản nên N tiếp tục dùng tay kéo dây khóa của cái ví ra thì thấy bên trong có nhiều thẻ cào điện thoại di động của các nhà mạng Vinaphone, MobiFone và V1 với nhiều mệnh giá khác nhau nên đã lấy hết toàn bộ số thẻ cào gồm: 01 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng; 17 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng; 36 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng; 03 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 10.000 đồng; 19 thẻ cào MobiFone mệnh giá 100.000 đồng; 07 thẻ cào V2 mệnh giá 100.000 đồng; 16 thẻ cào V2 mệnh giá 20.000 đồng và 07 thẻ cào V2 mệnh giá 10.000 đồng. Nghi đem hết số thẻ cào đã lấy trộm được tiếp tục giấu vào túi da của mình, sau đó N trả tiền mua sữa và bánh cho chị S, lên xe điều khiển chạy về nhà và đem tất cả số tài sản trộm được cất giấu vào trong tủ quần áo.

Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, chị S phát hiện mất hết toàn bộ số tiền và thẻ cào điện thoại nên đã xem lại camera của cửa hàng thì phát hiện Nguyễn Kim N là người lấy trộm số tài sản trên nên đã trình báo với chính quyền địa phương. Qua làm việc, Nguyễn Kim N đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTXTS ngày 27/9/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận số thẻ cào điện thoại mà Nguyễn Kim N đã lấy trộm của chị Nguyễn Thị S có giá trị như sau: 01 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng trị giá 96.000 đồng; 17 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng trị giá 816.000 đồng; 36 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng trị giá 691.200 đồng; 03 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 10.000 đồng trị giá 29.100 đồng; 19 thẻ cào MobiFone mệnh giá 100.000 đồng trị giá 1.900.000 đồng; 07 thẻ cào V2 mệnh giá 100.000 đồng trị giá 700.000 đồng; 16 thẻ cào V2 mệnh giá 20.000 đồng trị giá 320.000 đồng; 07 thẻ cào V2 mệnh giá 10.000 đồng trị giá 70.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 4.622.300 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • - Tiền Việt Nam 9.368.000 đồng; thẻ cào điện thoại trị giá 4.690.000 đồng; 01 cái túi vải màu xám và 01 cái ví có màu đỏ xanh (đã trả lại cho bị hại).
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe wave alpha màu đỏ, biển số kiểm soát 65AA-158.29 (đã trả lại cho Nguyễn Kim N).
  • - 01 thẻ nhớ HIKVISION 64GB màu đen có chứa dữ liệu điện tử ghi lại đoạn video lúc Nguyễn Kim N lấy trộm tiền và thẻ cào (đã đưa vào hồ sơ vụ án).

Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 02/CT–VKS ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Kim N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại S không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

Bị cáo không tham gia tranh luận, bị cáo thống nhất với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị hại yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để nuôi và chăm sóc hai đứa con còn quá nhỏ. Bị cáo trình bày lời nói sau cùng là xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Kim N thừa nhận hành vi như sau: Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 22/8/2024, Nguyễn Kim N có hành vi lén lút lấy trộm của chị Nguyễn Thị S tại cửa hàng T1 ở ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau số tiền 9.368.000 đồng; 01 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng, 17 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng, 36 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng, 03 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 10.000 đồng, 19 thẻ cào MobiFone mệnh giá 100.000 đồng, 07 thẻ cào V2 mệnh giá 100.000 đồng, 16 thẻ cào V2 mệnh giá 20.000 đồng và 07 thẻ cào V2 mệnh giá 10.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo N đã chiếm đoạt là 13.990.300 đồng.

Tài sản chiếm đoạt theo kết luận định giá là 13.990.300 đồng (trong đó, tiền mặt là 9.368.000 đồng; tổng giá trị tài sản (thẻ cào điện thoại) định giá là 4.622.300 đồng).

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người chứng kiến sự việc, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra sự việc, kết luận định giá tài sản, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Kim N đã vi phạm pháp luật hình sự; trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an của địa phương.

Khi thực hiện hành vi được xác định nêu trên, bị cáo Nguyễn Kim N có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích cá nhân, bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Với các yếu tố như đã nêu trên, đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, có căn cứ kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng quy định pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo đã thực hiện.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin Hội đồng xét xử cho bị cáo cải tạo tại địa phương, vì bị cáo đang nuôi 02 con gái còn nhỏ (sinh năm 2017 và năm 2023). Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo N phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo tại địa phương cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại S không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

[6] Từ những phân tích nêu trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Kim N 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/02/2025.

Giao Nguyễn Kim N cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Kim N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo N và bị hại Soàn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Công an huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nước;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Nguyễn Kim N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger