|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 10/2025/ST – HNGĐ Ngày 19 tháng 02 năm 2025 “V/v Yêu cầu ly hôn, nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Phú.
Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thúy Hằng và bà Đặng Huyền Sâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Linh Chi – Chức vụ: Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Anh sơn, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Mai – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 158/2024/TLST–HNGĐ ngày 23/12/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Anh Lê Văn A – Sinh năm: 1988.
- Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- * Bị đơn: Chị Trần Thị T – Sinh năm: 1992.
- Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại phiên tòa nguyên đơn anh Lê Văn A vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, anh Văn A trình bày:
Anh Lê Văn A và chị Trần Thị T kết hôn vào năm 2013, tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T trên. Hôn nhân tự nguyện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, cùng nhau nuôi dạy con cái, xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên đến khoảng vài năm trở lại đây thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính cách hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vã. Do cuộc sống vợ chồng quá căng thẳng nên vợ chồng đã sống ly thân mấy năm nay. Nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, tình cảm vợ chồng không còn nên anh Văn A đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị T.
Về con chung: Anh Lê Văn A và chị Trần Thị T có 01 con chung: Cháu Lê Trần Duy K, sinh ngày 19/10/2013. Sau khi vợ chồng ly thân, cháu K sống cùng với chị T. Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh Lê Văn A đề nghị giao cháu K cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng vì con còn nhỏ, mẹ chăm sóc sẽ tốt hơn.
1
Về tài sản chung và nợ: Anh Lê Văn A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa bị đơn, chị Trần Thị T vắng mặt, tuy nhiên theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị T trình bày:
Chị Trần Thị T và A Lê Văn A kết hôn với nhau vào năm 2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc không có chuyện gì xảy ra. Tuy nhiên vài năm trở lại đây thì hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách hai bên không hợp nhau, bất đồng nhiều chuyện trong cuộc sống. Mặc dù được gia đình hai bên động viên, khuyên giải nhiều lần nhưng không thành. Do cuộc sống vợ chồng quá căng thẳng nên vợ chồng đã sống ly thân mấy năm nay. Tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh Lê Văn A thực sự không còn. Nay anh Lê Văn A yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn chị T thì chị cũng đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung: Cháu Lê Trần Duy K, sinh ngày 19/10/2013. Sau khi vợ chồng ly thân, cháu H sống cùng với chị T. Trường hợp ly hôn, chị T cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H vì hiện tại cháu đang còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ. Chị T không yêu cầu anh Lê Văn A phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.
Về tài sản chung và nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự .
Về nội dung vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn A được ly hôn với chị Trần Thị T.
- - Về con chung: Giao con chung là cháu C Lê Trần Duy K, sinh ngày 19/10/2013 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi, trưởng thành.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: HĐXX không xét do chị Trần Thị T không yêu cầu anh Lê Văn A cấp dưỡng cho con.
- - Về án phí: Anh Lê Văn A phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
2
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Văn A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là chị Trần Thị T cư trú tại Thôn H, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Văn A và bị đơn chị Trần Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên việc giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn A và chị Trần Thị T kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An, hôn nhân là hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên đến vài năm trờ lại đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hợp nhau. Mặc dù hai bên gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng cuộc sống vợ chồng ngày càng trầm trọng, không còn tiếng nói chung. Do cuộc sống vợ chồng căng thẳng, vợ chồng đã sống ly thân mấy năm nay.
Xét tình cảm giữa anh Lê Văn A, chị Trần Thị T thực sự không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Văn A là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh Lê Văn A và chị T có 01 con chung: Cháu Cháu Lê Trần Duy K, sinh ngày 19/10/2013. Hiện tại cháu K đang còn nhỏ và sống với chị T. Trường hợp ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Bị đơn anh Lê Văn A đề nghị giao cháu K cho chị T nuôi dưỡng. Do đó việc giao cháu K cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, phù hợp với nguyện vọng của cháu K.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị T không yêu cầu anh Lê Văn A cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xét.
Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Anh Lê Văn A và chị Trần Thị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Anh Lê Văn A phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn A.
- * Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn A được ly hôn với chị Trần Thị T.
- * Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Trần Duy K, sinh ngày 19/10/2013 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi, trưởng thành.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị T không yêu cầu anh Lê Văn A cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xét.
3
Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- * Về tài sản chung: Anh Lê Văn A và Chị Trần Thị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- * Về án phí: Anh Lê Văn A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn (Đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0008016 ngày 23/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). Anh Lê Văn A đã nộp đủ án phí ly hôn.
- * Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi người vắng mặt cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Phú |
4
5
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn P
Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thúy H1 và bà Đặng Huyền S.
Căn cứ vào Điều 264 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vào ngày 19/02/2025, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An đã tiến hành nghị án đối với vụ án“ Yêu cầu ly hôn” giữa nguyên đơn anh Lê Văn A và bị đơn chị Trần Thị T.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ.
6
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN NHỮNG VẤN ĐỀ
PHẢI GIẢI QUYẾT TRONG VỤ ÁN NHƯ SAU:
1 Căn cứ: Khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a, điểm b, khoản 2 điều 227; khoản 3 điều 228; điều 238, khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn A
- * Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn A được ly hôn với chị Trần Thị T.
- * Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Trần Duy K, sinh ngày 19/10/2013 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi, trưởng thành.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị T không yêu cầu anh Lê Văn A cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xét.
Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- * Về tài sản chung: Anh Lê Văn A và chị Trần Thị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- * Về án phí: Anh Lê Văn A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn (Đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0008016 ngày 23/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). Anh Văn A đã nộp đủ án phí ly hôn.
- * Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi người vắng mặt cư trú.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Phạm Thị Thúy Hằng Đặng Huyền S |
Phan Văn P |
7
8
9
Bản án số 10/2025/ST – HNGĐ ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 10/2025/ST – HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn A - Trần Thị Th "Yêu cầu ly hôn"
