Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18-02-2025

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Thi

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Anh Giàu
  2. Bà Nguyễn Thị Bé Em

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Ấm – Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 431/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị D, sinh năm: 1974;
  2. Nơi cư trú: Số A, đường Đ, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng D1, sinh năm 1974
  4. Số A, đường Đ, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn bà Lâm Thị D trình bày:

Bà Lâm Thị D và ông Nguyễn Trọng D1 kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã B, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bến Tre vào ngày 10/9/1997, hôn nhân do tự nguyện. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẩn do tình cảm vợ chồng không còn, không còn tiếng nói chung và đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay bà yêu cầu xin được ly hôn với ông D1.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Lâm Trọng D2, sinh ngày: 26/7/1998 và Nguyễn Lâm Quỳnh D3, sinh ngày: 31/01/2010. Sau khi ly hôn, bà D yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu D3 và không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu D2 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: bà và ông D1 tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: bà và ông D1 không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Lâm Thị D có văn bản yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt bà.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Trọng D1 để tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông D1 vắng mặt và không có trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà D.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre có ý kiến:

Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lâm Quỳnh D3, sinh ngày: 31/01/2010 cho bà Lâm Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận bà Lâm Thị D không yêu cầu ông Nguyễn Trọng D1 cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Nguyễn Lâm Trọng D2, sinh ngày: 26/7/1998 hiện đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; Về tài sản chung: Bà Lâm Thị D và ông Nguyễn Trọng D1 tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; Về nợ chung: Bà Lâm Thị D khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Tuyên án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Lâm Thị D khởi kiện ông Nguyễn Trọng D1 yêu cầu ly hôn nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Trọng D1 là bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng:

Bà Lâm Thị D có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà D theo quy định tại Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Trọng D1 là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông D1 vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông D1 theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị D và ông Nguyễn Trọng D1 kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bến Tre vào ngày 10/9/1997, hôn nhân do tự nguyện nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Trong quá trình hôn nhân, bà D cho rằng mâu thuẫn là do tình cảm vợ chồng không còn, không còn tiếng nói chung và đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Xét thấy, Tòa án đã triệu tập ông D1 để tham gia phiên hòa giải và phiên tòa nhưng ông D1 vắng mặt và không có lời trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà D thể hiện ông D1 không muốn hàn gắn, đồng thời theo bà D trình bày thì bà D và ông D1 đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa bà D và ông D1 là có thật và cả hai không tìm cách tháo gỡ được làm cho hôn nhân giữa hai bên lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lâm Thị D đối với ông Nguyễn Trọng D1.

[3.2] Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Lâm Trọng D2, sinh ngày: 26/7/1998 và Nguyễn Lâm Quỳnh D3, sinh ngày: 31/01/2010. Sau khi ly hôn bà D yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lâm Quỳnh D3 và không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện cháu D3 đang sinh sống với bà D, ông D1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con chung của bà D và việc giao con chung cho bà D nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu Nguyễn Lâm Quỳnh D3, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận bà D không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Nguyễn Lâm Trọng D2, sinh ngày: 26/7/1998 hiện đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3.3] Về tài sản chung: Bà Lâm Thị D và ông Nguyễn Trọng D1 tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3.4] Về nợ chung: Bà Lâm Thị D khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Lâm Thị D phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị D đối với bị đơn ông Nguyễn Trọng D1 về việc tranh chấp ly hôn, cụ thể tuyên:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Trọng D1.
    2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lâm Quỳnh D3, sinh ngày: 31/01/2010 cho bà Lâm Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận bà Lâm Thị D không yêu cầu ông Nguyễn Trọng D1 cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Trọng D1 được quyền đến thăm chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con chung tên Nguyễn Lâm Trọng D2, sinh ngày: 26/7/1998 hiện đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

  1. Về tài sản chung: Bà Lâm Thị D và ông Nguyễn Trọng D1 tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  2. Về nợ chung: Bà Lâm Thị D khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Lâm Thị D phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005315 ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Bà Lâm Thị D đã thực hiện xong.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Lâm Thị D và ông Nguyễn Trọng D1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP Bến Tre;
  • - Chi cục THADS TP Bến Tre;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã Bình Phú, TP Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Phạm Thị Xuân Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa Bà Lâm Thị D và ông Nguyễn Trọng D1, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger