TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 02 - 2025 V/v "ly hôn, nuôi con chung" | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Dung
Ông Đinh Thanh Hải
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc "ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXX-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Duy T, sinh năm 1984
- Bị đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1978
Nơi thường trú: Xóm F, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (có đơn xin vắng mặt)
Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên
Nơi ở hiện nay: Ngách D, đường A, Gwang san-gu, khu chung cư D, làng J, Đại Hàn D (xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn anh Phạm Duy T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, (nay là thành phố P), tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hòa thuận, đến năm 2017, do kinh tế khó khăn nên chị H sang Hàn Quốc làm kinh tế. Năm 2020 anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đôi bên không còn thông cảm, chia sẻ và thấu hiểu cho nhau. Nay anh xác định tình cảm không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Duy Đ, sinh ngày 03/02/2016. Khi ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi con chung. Anh chị tự thỏa thuận về cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai bị đơn chị Đỗ Thị H trình bày:
Chị xác định lời khai của anh T về quan hệ hôn nhân là đúng. Anh chị kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, (nay là thành phố P), tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Hiện nay chị đang làm việc tại Hàn Quốc, anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, đôi bên không còn thấu hiểu và tình cảm vợ chồng. Anh T xin ly hôn, chị nhất trí. Về con chung, vợ chồng có 01 con chung là Phạm Duy Đ, sinh ngày 03/02/2016. Khi ly hôn chị nhất trí giao cháu Đ cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, anh chị tự thỏa thuận về cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng anh chị không có tài sản chung, nợ chung.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Duy T, cho anh T ly hôn với chị H. Về con chung: Giao cháu Phạm Duy Đ, sinh ngày 03/02/2016 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng: Tự thỏa thuận nên không xem xét. Tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Phạm Duy T, sinh năm 1984, nơi thường trú: Xóm F, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1978 có nơi thường trú trước khi xuất cảnh ở Xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Hiện nay ở ngách D, đường A, Gwang san-gu, khu chung cư D, làng J, Đại Hàn D. Theo công văn số 5146/PQLNXC(Đ1) ngày 16/12/2024 của Phòng Q Công an tỉnh T xác định chị Đỗ Thị H đã xuất cảnh ngày 21/9/2017 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Anh T và chị H đều đề nghị giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa anh Phạm Duy T và chị Đỗ Thị H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, (nay là thành phố P), tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hòa thuận, đến năm 2017, do kinh tế khó khăn nên chị H sang Hàn Quốc làm kinh tế. Năm 2020 anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đôi bên không còn thông cảm, chia sẻ và thấu hiểu cho nhau. Anh T xin ly hôn, chị H nhất trí. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H đã trầm
trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai anh chị đều nhất trí ly hôn nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T, cho anh T được ly hôn với chị H là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
[3] Về con chung: Anh Phạm Duy T và chị Đỗ Thị H có 01 con chung là Phạm Duy Đ, sinh ngày 03/02/2016. Hội đồng xét xử thấy, anh T và chị H đều nhất trí để anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, do vậy để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử giao con chung Phạm Duy Đ cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo đúng các quy định tại Điều 81; 82; 83 của Luật hôn nhân gia đình Việt Nam.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung do các bên không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T và chị H xác định không có, không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không giải quyết.
Án phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83 Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Phạm Duy T và chị Đỗ Thị H
- Về hôn nhân: Cho anh Phạm Duy T được ly hôn chị Đỗ Thị H
- Về con chung: Giao con chung Phạm Duy Đ, sinh ngày 03/02/2016 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Các bên có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Án phí: Anh Phạm Duy T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000230 ngày 10/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H do anh T không yêu cầu.
Anh Phạm Duy T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án. Chị Đỗ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ( đã ký) Lê Thị Hồng Phương |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T và H
