|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/02/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Bảy;
- Ông Phạm Văn Út.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Phan Trọng Thế – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 383/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1987;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: chị Nguyễn Thị P, sinh năm: 1989;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
(Anh T, chị P có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 02 tháng 12 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu T trình bày:
Anh với chị Nguyễn Thị P do quen biết và tự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó không còn hạnh phúc nữa do vợ chồng hay mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng anh đã tìm cách tháo gỡ. Gia đình hai bên biết anh chị bất hoà và đã khuyên nhủ để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh và chị P đã ly thân từ đầu năm 2017 đến nay. Trong thời gian ly thân cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai biết đến ai. Nay, anh T xác định tình cảm của anh đối với chị P không còn, vợ chồng không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị P.
Về con chung: anh chị có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Phúc D, sinh ngày 12/11/2016. Hiện nay, cháu Phúc D đang sống với anh T. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phúc D, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh T không yêu cầu chị P cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
Tại bản tự khai ngày 23/01/2025, anh T có thay đổi về phần tài sản chung so với đơn khởi kiện ngày 02/12/2024. Cụ thể, theo đơn khởi kiện ngày 02/12/2024, anh T trình bày về tài sản chung của anh và chị P là tự thoả thuận nhưng đến nay anh xác định không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Các yêu cầu còn lại vẫn giữ nguyên và có yêu cầu giải quyết vắng mặt do bận công việc không thể đến dự các phiên họp, phiên toà được. Anh T không khiếu nại về sau.
Tại bản tự khai ngày 21/01/2025, bị đơn chị Nguyễn Thị Phương trình B:
Chị P với anh T do tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó không còn hạnh phúc nữa do vợ chồng hay mâu thuẫn, bất đồng quan điểm từ đó anh chị không có tiếng nói chung. Chị và anh T đã ly thân mỗi người một nơi, cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai biết đến ai. Nay, chị P xác định không còn tình cảm với anh T nên đối với yêu cầu xin ly hôn của anh T, chị P đồng ý.
Về con chung: anh chị có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Phúc D, sinh ngày 12/11/2016, hiện cháu Phúc D đang sống với anh T. Sau khi ly hôn, chị P đồng ý cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phúc D. Anh T không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con, chị P đồng ý.
Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng sau khi ly hôn.
Chị P có yêu cầu giải quyết vắng mặt do bận buôn bán và có con nhỏ. Chị P không khiếu nại về sau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị:
Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 21, 28, 35, 39, 227 Bộ Luật TTDS 2015; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ 2014, đề xuất: Chấp nhận yêu cầu của nguyện đơn, cụ thể:
- Về hôn nhân: anh Nguyễn Hữu T được ly hôn với chị Ngyễn Thị P1.
- Về con chung: anh T tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Phúc D (sinh ngày 12/11/2016).
- Về cấp dưỡng: chị P1 không phải cấp dưỡng nuôi con; cấp dưỡng giữa vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 02/12/2024, anh Nguyễn Hữu T khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị P. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn anh T, bị đơn chị P có yêu cầu giải quyết vắng mặt, phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
[2] Đối với yêu cầu ly hôn của anh T:
Anh T, chị P tự nguyện kết hôn vào năm 2016 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/8/2016. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường hay cãi vã từ đó không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ. Gia đình hai bên biết anh chị bất hòa và tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh T, chị P ly thân sống mỗi người một nơi; mâu thuẫn của vợ chồng chị không được tháo gỡ; từ khi Toà án tổ chức hoà giải đến nay tình trạng vợ chồng chị không cải thiện. Anh T xác định không còn tình cảm nên xin ly hôn với chị P. Đối với yêu cầu của anh T, chị P đồng ý nên có cơ sở khẳng định, tình trạng vợ chồng của anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về nuôi con chung: anh T, chị P có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Phúc D, sinh ngày 12/11/2016. Hiện nay, cháu Phúc D đang sống với anh T. Sau khi ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Phúc D, sinh ngày 12/11/2016. Đối với yêu cầu này của anh T, chị P đồng ý nên ghi nhận. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.
[4] Về cấp dưỡng: anh T không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết anh T có quyền yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về chia tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh T, chị P không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu T xin ly hôn đối với chị Nguyễn Thị P;
- * Về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Nguyễn Hữu T với chị Nguyễn Thị P.
- * Về nuôi con chung: anh Nguyễn Hữu T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Phúc D, sinh ngày 12/11/2016.
Ghi nhận anh Nguyễn Hữu T không yêu cầu chị Nguyễn Thị P cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Thị P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con. Anh Nguyễn Hữu T có quyền yêu cầu chị Nguyễn Thị P cấp dưỡng nuôi con
- * Về chia tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- * Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị P không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.
- Về án phí: anh Nguyễn Hữu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006681 ngày 26/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh Trung |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
