TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:10/2025/HS-ST Ngày 17-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Quyết
Ông Nguyễn Đình Nha
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
- Thư ký tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Công K - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, thành phố Hải Phòng đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1987, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K1 và bà Ngô Thị L; có vợ là Hoàng Thị H và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết đinh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 21/QĐ-TA ngày 14-7-2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 2, Hải Phòng đối với P trong thời hạn 12 tháng. P chấp hành xong ngày 20-9-2023 (chưa được xóa); nhân thân: Tại Bản án số 47/2018/HS-ST ngày 22-11-2018, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xử phạt Nguyễn Văn P 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và buộc P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. P chấp hành xong án phạt tù từ ngày 30-10-2019 và nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 19-02-2019 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 21-8-2024 đến ngày 29-8-2024 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Ngô Văn Đ; vắng mặt
- Người làm chứng: Bà Ngô Thị H1; có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 21 tháng 8 năm 2024, tổ công tác Công an huyện V phối hợp với Công an xã Giang Biên tuần tra trên địa bàn xã thì phát hiện tại khu vực cửa quán thuốc Minh A của chị Ngô Thị H1, sinh năm 1993 ở thôn G, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng có 02 nam giới đang dừng xe máy có biểu hiện nghi vấn phạm tội. Người nam giới ngồi sau xuống xe (điều tra xác định là Nguyễn Văn P) đi vào quán thuốc mua 04 bơm kim tiêm, khi người này cầm được 01 bơm kim tiêm thì tổ công tác tiến hành khống chế kiểm tra, lúc này P ném từ tay trái xuống đất 01 bơm kim tiêm và 02 gói giấy màu trắng. Tổ công tác mở 02 gói giấy ra kiểm tra thì thấy bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội phạm quả tang, thu giữ tại nền nhà 02 gói giấy màu trắng, 01 bơm kim tiêm, thu giữ tại túi quần phía sau bên phải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, lắp sim số 0365037130 và số tiền 2.305.000 đồng. Chị H1 giao nộp 03 bơm kim tiêm do P đã mua chưa kịp cầm. Còn nam giới đi cùng P điều khiển xe mô tô bỏ đi.
Ngày 21-8-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn P ở thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Nguyễn Văn P khai nhận: Sáng ngày 21-8-2024, P đến nhà anh trai là Nguyễn Văn X, sinh năm 1980 ở cùng thôn mượn xe mô tô (không nhớ biển kiểm soát) nhưng không nói mục đích dùng xe đi mua ma túy, sau đó P điều khiển xe mô tô đến khu vực nghĩa trang ở xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng mua của một người nam giới (chưa xác định được căn cước, lý lịch) 200.000 đồng được 02 gói giấy màu trắng chứa ma túy loại Heroine. P cầm 02 gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến Quốc lộ A, thuộc địa phận xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng thì gặp bạn nghiện là nam giới (không biết tên tuổi, địa chỉ) hỏi đi nhờ xe, P đồng ý và bảo bạn điều khiển xe chở P, bạn của P không biết P cầm ma túy trong tay. Khi đi đến địa phận thôn G, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng, P bảo bạn rẽ vào quán thuốc nhưng không nói mục đích vào quán thuốc để làm gì. Khi đi đến gần quán T thì P xuống xe một mình đi bộ vào mua 04 bơm kim tiêm để làm dụng cụ sử dụng ma túy, chủ quán thuốc đặt 04 bơm kim tiêm trên mặt tủ kính, P mới cầm được 01 chiếc bơm kim tiêm thì lực lượng Công an ập vào không chế, lúc này tay trái P đang cầm 02 gói giấy ma túy và 01 bơm kim tiêm xuống nền nhà để không bị lực lượng Công an phát hiện.
Tại bản kết luận giám định số 998/KL-KTHS ngày 28-8-2024 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,28 gam, loại Heoine”
Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 29-8-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 24-01-2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định việc truy tố Nguyễn Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố Nguyễn Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt Nguyễn Văn P từ 30 đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,18 gam chất bột và vỏ bao gói của mẫu vật được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 998MT/PC09; 04 bơm kim tiêm; 02 mảnh giấy được niêm phong vào 01 bì thư có dấu của phòng Cảnh sát cơ động Công an thành phố H; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Masstel và số tiền 2.305.000 đồng (Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo). Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại thôn G, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn P có hành vi cất giấu trái phép trên người 02 gói giấy màu trắng chứa ma túy loại Heroine có khối lượng 0,28 gam với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện V bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo tàng trữ ma túy là Heroine có khối lượng là 0,28 gam nên bị cáo bị xét xử với tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ phù hợp với pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an, xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo pháp luật của Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 21/QĐ-TA ngày 14-7-2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 2, Hải Phòng đối với P trong thời hạn 12 tháng. P chấp hành xong ngày 20-9-2023 (chưa được xóa). Tại Bản án số 47/2018/HS-ST ngày 22-11-2018, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xử phạt Nguyễn Văn P 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, buộc P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. P chấp hành xong án phạt tù từ ngày 30-10-2019 và nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 19-02-2019, tiền án này đến nay đã được xóa. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu giữ 0,18 gam chất bột và vỏ bao gói của mẫu vật được niêm phong lại trong một bì giấy dấu niêm phong số 998MT/PC09; 04 bơm kim tiêm; 02 mảnh giấy được niêm phong vào 01 bì thư có dấu của phòng Cảnh sát cơ động Công an thành phố H; 01 điện thoại di động; 01 chiếc áo sơ mi và số tiền 2.305.000 đồng. Đối với chiếc áo sơ mi của P, quá trình điều tra cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại cho P. Đối với chiếc điện thoại và số tiền 2.305.000 đồng là của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo sử dụng. Đối với số ma túy thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành trái phép cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Đối với chủ quán thuốc là chị Ngô Thị H1 đã bán bơm kim tiêm cho P nhưng không biết mục đích của P mua để sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp. Anh Nguyễn Văn X là người cho P mượn xe mô tô biển soát 15K1-393.65 nhưng không biết P sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan không xử lý là phù hợp,
[9] Đối với người nam giới bán ma túy cho P tại khu vực nghĩa trang xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng hiện chưa xác định được căn cước lai lịch nên cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
[10] Đối với người nam giới điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15K1-393.65 chở P, sau đó điều khiển xe bỏ đi đến nay chưa trả lại cho P là có dấu hiệu của việc chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra thụ lý tin báo khác để tiến hành xác minh làm rõ và xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
[11] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21-8-2024.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; xử tịch thu tiêu hủy: 0,18 gam chất bột của mẫu vật được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 998MT/PC09; 02 mảnh giấy được niêm phong vào 01 bì thư có dấu của phòng Cảnh sát cơ động, Công an thành phố H; 04 bơm kim tiêm. Trả lại bị cáo Nguyễn Văn P 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel được niêm phong trong 01 bì giấy và số tiền là 2.305.000 đồng theo ủy nhiệm chi ngày 11-02-2025 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo (Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo ngày 10-02-2025).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
