Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHƯỚC

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 12-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Thành Nghĩa.
  2. Bà Phạm Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thuỳ Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 107/2024/TLST-HS, ngày 25 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, (tên gọi khác: không; giới tính: Nam); sinh ngày 10/9/2005, tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: (ngoại hôn), con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1981; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 10 năm 2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Duy Phương Q, sinh năm 1995; nơi cư trú: Khu phố H, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

- Người làm chứng:

Bà Tô Thị Thanh T1, sinh năm 1983; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 07/10/2024, Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) do T thuê của một người phụ nữ tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) đi đến khu công nghiệp P, thành phố Q, tỉnh Bình Định gặp một người tên thường gọi là Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua “nửa hộp năm” ma tuý đá và dụng cụ sử dụng ma túy đá. Sau khi thỏa thuận xong, Đ đưa cho T 01 gói ni lông đựng ma tuý đá, 01 chai thủy tinh và 01 nỏ thủy tinh; T đưa 2.300.000 đồng cho người này. Sau khi mua được ma tuý, T mang về nhà của T ở khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định cất giấu và lấy một ít ma túy đổ vào nỏ thủy tinh, rồi gắn vào chai thủy tinh có sẵn 02 lỗ, một lỗ gắn nỏ thủy tinh, lỗ còn lại gắn ống hút nhựa để hút ma túy đá một mình. Sau khi sử dụng xong, T cất giấu dụng cụ sử dụng ma túy và gói ma túy tại phòng ngủ của T.

Đến khoảng 16 giờ ngày 08/10/2024, Nguyễn Thanh T đến nhà của Nguyễn Duy Phương Q rủ Q đến nhà của T để phụ Trọng sửa lại kệ tủ và sử dụng ma tuý đá thì Q đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở Q đến cửa hàng mua bán kính tại thị trấn D, huyện T mua tấm kính mang về nhà của T. Sau đó, T cùng Q vào phòng ngủ của T, rồi T lấy chai thủy tinh gắn nỏ thủy tinh chứa sẵn ma túy đá để T và Q lần lượt hút ma túy. Sau khi sử dụng ma tuý xong, T bỏ dụng cụ sử dụng ma túy dưới gầm giường tại phòng ngủ, T và Q ngồi nghỉ thì Công an huyện T kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ dụng cụ sử dụng ma túy, gói ma túy đá do T giao nộp và các đồ vật liên quan đến vụ án.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Thanh T và Nguyễn Duy Phương Q đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 473/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • Chất rắn màu nâu (ký hiệu A1) bám dính bên trong 01 (một) ống thuỷ tinh gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,0518 gam, là (loại): Methamphetamine.
  • Các hạt tinh thể (ký hiệu A2) đựng bên trong 01 (một) gói ni lông kích thước (4x5)cm gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,2985 gam, là (loại): Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 07/CT-VKS-TP ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và đề nghị

2

Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, đề nghị tổng hợp hình phạt của 02 tội.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị:

  • Tịch thu tiêu hủy ma túy và các vật chứng sử dụng vào việc phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng;
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T 01 điện thoại oppo màu xanh là tài sản cá nhân của bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Thanh T không trình bày lời bào chữa cũng không có ý kiến tranh luận gì với lời Luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Định; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chất Methamphetamine, là chất ma tuý nằm trong danh mục chất ma tuý và tiền chất có số thứ tự 323, danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ là các chất gây nghiện, gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người nên Nhà nước độc quyền quản lý, mọi việc cất giữ, sử dụng chất này phải theo quy định đặt biệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận: Vào ngày 08/10/2024, tại nhà của Nguyễn Thanh T ở khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định, bị cáo đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, cung cấp dụng cụ và chất ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Duy Phương Q sử dụng trái phép. Ngoài ra, bị cáo còn có hành vi cất giấu 0,3503 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma

3

tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của con người, gây ảnh hường xấu tình hình an ninh trật tự ở địa phương, nên phải xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ:

  • 01 (một) bì thư số 473/KL-KTHS (bên trong đựng vỏ, bao bì đựng mẫu vật, 01 (một) nỏ thuỷ tinh; 0,0214 gam mẫu A1 và 0,2341 gam mẫu A2 còn lại sau giám định), dán kín, niêm phong dấu tròn Phòng K Công an tỉnh B, chữ ký của Nguyễn Thị Bích H1 và Huỳnh Kim T3.
  • 01 (một) bì ni lông (bên trong đựng 01 (một) cái chai thuỷ tinh và 01 (một) cái ống hút nhựa màu trắng), được niêm phong, trên giấy niêm phong có dấu tròn của Công an thị trấn T, chữ ký của Nguyễn Thành T4, Nguyễn Minh S, Bùi Ngọc T5, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Duy Phương Q.
  • 01(một) điện thoại di động hiệu oppo, màu xanh, IMEI1: 864647055815016, IMEI2: 864647055815008 của Nguyễn Thanh T.

Xét thấy: Nỏ thuỷ tinh, chai thuỷ tinh, ống hút nhựa, vỏ bao bì và các vật dụng sử dụng ma túy và ma túy còn lại sau giám định không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; đối với điện thoại di động hiệu oppo, màu xanh của Nguyễn Thanh T, là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thanh T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Anh Nguyễn Duy Phương Q không góp tiền, không chuẩn bị, không bàn bạc, không cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không đồng phạm.

[9] Bà Tô Thị Thanh T1 không biết việc bị cáo Nguyễn Thanh T mua ma túy về cất giấu tại phòng ngủ để sử dụng nên không đồng phạm.

4

[10] Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Thanh T, không có đủ căn cứ để xác định nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Trọng phạm T6 “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2024.

3. Xử lý vật chứng:

3.1 Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) bì thư số 473/KL-KTHS (bên trong đựng vỏ, bao bì đựng mẫu vật, 01 (một) nỏ thuỷ tinh; 0,0214 gam mẫu A1 và 0,2341 gam mẫu A2 còn lại sau giám định), dán kín, niêm phong dấu tròn Phòng K Công an tỉnh B, chữ ký của Nguyễn Thị Bích H1 và Huỳnh Kim T3.
  • 01 (một) bì ni lông (bên trong đựng 01 (một) cái chai thuỷ tinh và 01 (một) cái ống hút nhựa màu trắng), được niêm phong, trên giấy niêm phong có dấu tròn của Công an thị trấn T, chữ ký của Nguyễn Thành T4, Nguyễn Minh S, Bùi Ngọc T5, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Duy Phương Q.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước.

3.2 Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T:

  • 01(một) điện thoại di động hiệu oppo, màu xanh, IMEI1: 864647055815016, IMEI2: 864647055815008 của Nguyễn Thanh T.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước.

4. Án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định;
  • Sở tư pháp tỉnh Bình Đinh;
  • Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước;
  • Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phước;
  • Cơ quan THAHS Công an huyện Tuy Phước;
  • Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước;
  • Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú;
  • Bị cáo, đương sự;
  • Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Cẩm Tú

6
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Trọng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger