TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HS-ST. Ngày: 11-02-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Tài Thủ
Bà Thái Ánh Trinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh ngày: 12/11/2000 tại huyện V - thành phố Cần Thơ;
nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: hòa hảo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1978 và bà Phạm Thị H, sinh năm: 1978; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ, Công an quận T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 23/9/2024 Nguyễn Văn L điện thoại cho người thanh niên tên L1 (chưa rõ nhân thân) nhờ ma túy để sử dụng, L1 hẹn L tại Nhà nghĩ 369 thuộc phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Sau đó, L điều khiển xe môtô biển kiểm soát 65S2-0535 đến điểm hẹn gặp L1 và nhờ L1 mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng, L1 đồng ý và bỏ đi khoảng 15 phút quay lại đưa cho L 01 (một) gói nilon không màu hàn kín, bên trong có chứa tinh thể không màu, L đưa cho L1 1.000.000 đồng. Sau khi nhận gói ma túy từ L1, L cầm gói ma túy trên tay trái chuẩn bị về tìm nơi sử dụng thì bị Công an phường T và Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận T bắt quả tang cùng tang vật (Bút lục 01-02) gồm:
- - 01 (một) gói nilon không màu hàn kín, bên trong có chứa tinh thể không màu;
- - 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A05, màn hình cảm ứng, số S: R93WA00G70Z không kiểm tra chất lượng bên trong;
- - 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 65S2-0535, loại xe dream;
- - 01 (một) nỏ thủy tinh đã qua sử dụng;
- - 01 (một) hột quẹt gas màu vàng đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 303/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng K, Công an thành phố C, kết luận (Bút lục 33): Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,8571 gam.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội. Đồng thời, bị cáo cũng thống nhất với kết luận giám định nêu trên. (Bút lục 44 đến 50)
Về tang vật: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T nhập kho vật chứng theo quy định. (Bút lục 35 đến 37)
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSTN ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa,
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt truy tố, bị cáo không ý kiến gì khác.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.
- Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Bộ luật Tố tụng hình sự) đề nghị.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 303/KL-KTHS ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố C bên trong có chứa ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) nỏ thủy tinh còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas vỏ màu vàng đã qua sử dụng là dụng cụ để sử dụng ma túy.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A05, màn hình cảm ứng, số seri: R93WA00G70Z bị cáo sử dụng liên lạc mua ma túy.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65S2-0535, loại xe Dream hiện chưa xác định được chủ sở hữu. Đề nghị giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi đã phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình phấn đấu sống có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi, căn cứ xác định tội phạm: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Các lời khai của bị cáo phù hợp nhau và phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và kết luận giám định... Như vậy, có cơ sở xác định vào ngày 23 tháng 9 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn L có hành vi nhờ người tên L1 (không rõ nhân thân) mua 1.000.000 đồng ma túy sau đó cất giấu nhằm mục đích sử dụng với khối lượng ma túy bị thu giữ qua giám định là 1,8571 gam, loại Methamphetamine. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng không chịu phấn đấu sống có ích, lại tiêm nhiễm thói hư tật xấu, sa đà vào nghiện ngập. Mặc dù, hoàn toàn nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy; gây nguy hại đối với xã hội, nhất là trong tình hình hiện nay có nhiều người nghiện ma túy và tội phạm về ma tuý ngày càng phổ biến, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống văn hóa lành mạnh của nhân dân, đồng thời cũng là nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội khác. Do vậy, cần thiết xử lý nghiêm để giáo dục đối với bị cáo cũng như đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án và tiền sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng: Như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Các vấn đề khác: Đối với người tên L1 có hành vi mua giùm ma túy cho Nguyễn Văn L, do không xác định được nhân thân cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra chưa tiến hành làm việc được, do đó cần thiết kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.
[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tuyên bố:
1. Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/9/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) gói niêm phong số 303/KL-KTHS ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố C bên trong có chứa ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định;
- 01 (một) nỏ thủy tinh còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng;
- 01 (một) quẹt gas vỏ màu vàng đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A05, màn hình cảm ứng, số seri: R93WA00G70Z.
Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục xác minh làm rõ chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 65S2-0535, loại xe Dream, xử lý theo quy định pháp luật.
3. Vấn đề khác: Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục xác minh làm rõ đối với đối tượng tên L1 có hành vi mua giùm ma túy cho Nguyễn Văn L để xử lý theo quy định.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L nộp số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6. Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Mộng Tuyền |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo: Nguyễn Văn L, sinh ngày: 12/11/2000 tại huyện V - thành phố Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ
