Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 11-02-2025.

V/v: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Văn Học.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Chung;

Ông K' Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K' Dem – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 169/2024/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 5 năm 2024 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-DS ngày 19-11-2024, Thông báo hoãn phiên tòa số 26/TB-TA ngày 10-12-2024 và Thông báo mở phiên toà số 03/2025/TB-TA ngày 13-01-2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Quế P; sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số C H, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Lê Huỳnh Thế N; sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số I tổ A, ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại phiên toà hôm nay, bà Bùi Thị Quế P trình bày: Bà và ông N tự nguyện kết hôn năm 2008, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Nguyên K, sinh ngày 13-4-2010 và Lê Trí Q, sinh ngày 27-02-2017, hiện đang sống với ông N. Khi ly hôn bà đồng ý giao các con chung cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung; về tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung, vợ chồng có cho một số người vay và nợ một số người. Khi ly hôn bà tự đòi nợ chung và trả nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Theo lời khai, lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, ông Lê Huỳnh Thế N trình bày: Công nhận lời trình bày của bà P về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản như trên là đúng. Vợ chồng có mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn không lớn và có thể khắc phục được nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà P. Đề nghị Toà án xem xét giải quyết.

Hiện nay các con đang sống với ông, khi ly hôn ông xin trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu bà P phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung; tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung nếu sau này không thoả thuận được sẽ yêu cầu Toà án giải quyết. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 53, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Quế P, xử cho bà Bùi Thị Quế P được ly hôn ông Lê Huỳnh Thế N; Giao các con chung tên Lê Nguyên K, sinh ngày 13-4-2010 và Lê Trí Q, sinh ngày 27-02-2017 cho ông Nguyễn trực T nuôi dưỡng, bà P không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại, thăm nom, giáo dục con chung; bà P chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông N tự nguyện kết hôn năm 2008, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau. Bà P xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Ông N cũng xác định vợ chông có mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn không lớn, ông không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà P nhưng lại không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà P và ông N đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà P cương quyết xin ly hôn. Căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho bà P và ông N được ly hôn là phù hợp.

[2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Nguyên K, sinh ngày 13-4-2010 và Lê Trí Q, sinh ngày 27-02-2017, hiện đang sống với ông N. Khi ly hôn ông N xin trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu bà P phải cấp dưỡng nuôi con, bà P đồng ý cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng dưỡng con chung. Xét quyền lợi mọi mặt của con, khả năng nuôi dưỡng con của các bên và sự thoả thuận của các bên. Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Giao các con chung tên Lê Nguyên K, sinh ngày 13-4-2010 và Lê Trí Q, sinh ngày 27-02-2017 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng; bà P không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp.

[3] Về tài sản: Các bên đương sự đều trình bày thì vợ chồng không có tài sản chung; tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung, có cho vay chung và nợ chung nhưng xin tự giải quyết, nếu không tự giải quyết được sẽ yêu cầu toà án giải quyết bằng vụ án khác. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên không đề cập giải quyết về tài sản là phù hợp.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà P phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Quế P được ly hôn ông Lê Huỳnh Thế N.
  2. Về con chung: Giao các con chung tên Lê Nguyên K, sinh ngày 13-4-2010 và Lê Trí Q, sinh ngày 27-02-2017 cho ông Lê Huỳnh Thế N trực tiếp nuôi dưỡng.

    Bà Bùi Thị Quế P không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được cản trở.

    Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: Bà Bùi Thị Quế P chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0005812 ngày 09-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh.(bà P đã nộp đủ án phí).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - Các đương sự (để thi hành)
  • - Chi cục THADS Di Linh;
  • - UBND xã Bà Điểm;
  • - Lưu hồ sơ; Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đới Văn Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger