Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-PT

Ngày: 10/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Quốc

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Bà Lê Thị Minh Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 167/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Tuấn K và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 09/8/1997 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12. Con ông Nguyễn Hoàng A và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không.
  2. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

  3. Đào Công V, sinh ngày 19/02/1995 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12. Con ông Nguyễn Văn D và bà Đào Ngọc T; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không.
  4. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

  5. Phạm Hoàng H1, sinh ngày 16/8/1995 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12. Con ông Phạm Văn C và bà Lâm Thị P; có vợ là Lê Thị Trúc L, sinh năm 1997; con có 01 người, sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không.
  6. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

  7. Võ Hữu P1, sinh ngày 12/12/1995 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12. Con ông Võ Hữu H2 và bà Nguyễn Thị H3; có vợ là Nguyễn Trúc C1, sinh năm 1994; con có 01 người, sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không.
  8. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

  9. Huỳnh Văn H4, sinh ngày 30/3/1995 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12. Con ông Huỳnh Văn T1 và bà Thạch Thị H5; có vợ là Phạm Thùy Hải N, sinh năm 1999; con có 01 người, sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không.
  10. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho các bị cáo: Luật sư Phan Trọng N1 – Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh Hậu Giang.

Trong vụ án, còn có bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 01/12/2023, ông Trần Hoàng N2 có tổ chức đám cưới cho con trai tên Trần Ngọc C2 tại nhà riêng thuộc ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Khi tổ chức đám cưới ông N2 và Cứ có mời Nguyễn Tuấn K, Đào Công V, Phạm Hoàng H1, Võ Hữu P1, Huỳnh Văn H4, Lâm Quang T2, Nguyễn Minh N3, Trần Văn Út N4 và một số người khác đến dự tiệc. Đến khoảng hơn 22 giờ ngày 01/12/2023, tại đám cưới còn lại ít người nên có một số người gom lại đánh bài ăn tiền, trong đó có những người sinh sống tại xã G là Võ Hữu H2, Nguyễn Minh N3 và một số người khác chưa rõ nhân thân. Sòng bài đánh ăn tiền với hình thức đánh bài binh Ấn Độ, có khoảng 04 đến 05 tụ bài, mức độ ăn thua từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng mỗi tụ. Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 02/12/2023, Trần Thái T3 đi cùng 01 người tên K1 (chưa rõ họ tên, địa chỉ) ghé vào đám cưới để tham gia đánh bài ăn tiền, lúc này ông Trần Văn M ngồi ngoài lộ trước đám cưới thì gặp Trần Quốc V1 đi cùng một người tên B (chưa rõ họ tên, địa chỉ) đến đám cưới với mục đích tham gia đánh bài ăn tiền nhưng Quốc V1 và B chưa vào đám cưới đánh bài mà chỉ ngồi bên ngoài nói chuyện với ông M. Lúc này trong sòng bài ông Võ Hữu H2, Nguyễn Minh N3, Trần Thái T3, K1 và một số người đang đánh bài ăn tiền, khi đến lượt ông H2 làm cái thì thỏa thuận mức độ ăn thua mỗi tụ cao nhất là 100.000 đồng nên những người đánh bài chia ra làm 07 tụ để đặt tiền, ông H2 làm cái được 02 ván, đến ván thứ 03 sau khi chia bài cho 08 tụ, mỗi tụ 06 lá bài, số bài dư còn lại chỉ còn 03 lá, thiếu mất 01 lá bài, lúc này Nguyễn Minh N3 phát hiện cho rằng Trần Thái T3 và K1 là 02 người đánh bài gian lận giấu 01 lá bài nên xảy ra cự cãi, ông H2 nói ván bài thiếu 01 lá bài nên không tính ăn thua, những người đặt tiền tự lấy tiền lại, Nguyễn Minh N3 lớn tiếng cự cãi thì Trần Thái T3 gom tiền đặt trên bàn cùng với K1 bỏ chạy ra lộ. Lúc này, Trần Quốc V1 và B ngồi ngoài lộ nghe tiếng cự cãi nên Trần Quốc V1 điều khiển xe máy hiệu Wave biển số 65H3 – 7070 chạy một mình ra hướng chợ Cả Lang.

Khi thấy K1 bỏ chạy về hướng ngọn T thì Trần Văn Út N4 cùng một số người khác đuổi theo, còn Trần Thái T3 bỏ chạy ra hướng ngược lại về chợ C3 thì Nguyễn Tuấn K, Phạm Hoàng H1 chạy bộ đuổi theo với mục đích bắt Trần Thái T3 lại để hỏi rõ việc đánh bài gian lận, cùng lúc này Đào Công Văn tự Ý lấy xe máy của Trần Ngọc C2 loại xe Wave biển số 65H8 - 4279 đang đậu gần đó đuổi theo hướng của Trần Thái T3. Nhóm người của Trần Văn Út N4 không đuổi kịp Khuê nên quay lại đám cưới, còn Nguyễn Tuấn K chạy đuổi theo Trần Thái T3 một đoạn thì thấy Trần Thái T3 lên xe máy của Trần Quốc V1 chạy ra hướng chợ Cả L1 nên Đào Công V điều khiển xe máy chạy đến kêu K lên xe, K lên xe kêu V chạy đuổi theo bắt Trần Thái T3 lại, cùng lúc này Phạm Hoàng H1 không đuổi kịp nên quay lại đám cưới thì gặp một người thanh niên nhỏ tuổi (chưa rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) kêu H1 lên xe chạy theo bắt người thanh niên đánh bài gian lận nên Phạm Hoàng H1 lên xe chạy ra hướng chợ C3. Đào Công V điều khiển xe máy chạy ra tới chợ C3 thì đổi tay lái cho Nguyễn Tuấn K điều khiển chạy về hướng chợ C4, khi gần tới Cầu G thì xe của người thanh niên nhỏ tuổi chở H1 hết xăng nên dừng lại, lúc này Nguyễn Tuấn K chở Đào Công V chạy đến thấy H1 nên kêu H1 lên xe chở 03 chạy đuổi theo Trần Quốc V1 và Trần Thái T3. Khoảng 20 phút sau thì Võ Hữu P1 nghe có người trong đám cưới kêu đi rước Nguyễn Tuấn K bị té xe bên vườn Quýt thì P1 tự đi tìm K. Cùng lúc này Huỳnh Văn H4 điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 65G1-212.12 đến đám cưới thì nghe có người trong đám cưới kêu đi rước K thì H4 nhìn thấy Võ Hữu P1 đang đi bộ ra, P1 hỏi H4 có đi rước K không thì H4 trả lời “có” và H4 chở Võ Hữu P1 ngồi phía sau đi rồi cả hai đi tìm Nguyễn Tuấn K.

Khi nhóm của Đào Công V đi đến chợ C4 thì H1 nhìn thấy Trần Quốc V1 đang điều khiển xe máy biển số 65H3 – 7070 chở T3 chạy phía trước nên H1 nói cho K, Công V biết “chiếc xe biển số 7070 chạy phía trước là xe của hai thằng đánh bài điếm”, nghe vậy K tăng ga vượt lên, cả ba hô hào kêu Trần Quốc V1 dừng xe lại, Quốc V1 không dừng xe lại mà tăng ga bỏ chạy về hướng thị trấn P, K tăng ga đuổi theo Quốc V1, khi K vượt xe thì bị Quốc V1 dùng chân đạp qua xe K không cho K vượt lên, lúc này Đào Công V lấy nón bảo hiểm ra cầm trên tay, Phạm Hoàng H1 rút dây thắt lưng ra, Công V và H1 sử dụng nón bảo hiểm và thắt lung quơ về phía Quốc Văn, do Quốc V1 không có đội mũ bảo hiểm nên bị trúng vào đầu chảy máu nhưng vẫn tăng ga bỏ chạy. Hai xe điều khiển chạy vượt lên đến đoạn đường gần trụ sở của Đội Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy huyện P thuộc ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ, lúc này K điều khiển xe vượt lên thì bị Quốc V1 dang hai chân ra cản lại làm hai xe va chạm với nhau. Xe của Quốc V1 ngã xuống đường, xe của nhóm Công V chạy thêm được một đoạn rồi dừng lại. Khi ngã xe xuống đường thì Trần Quốc V1 bỏ chạy xuống mé sông trốn chỗ đống gạch đá, còn Trần Thái T3 thì chạy vào nhà người dân trốn. Lúc này, K sử dụng đèn led của điện thoại di động soi tìm thấy Trần Quốc V1 nên truy hô lên cho Đào Công V và Phạm Hoàng H1 biết. Tại đây, K dùng tay, chân đánh Quốc V1, sau đó cùng Đào Công V kéo Trần Quốc V1 ra ngoài đường lộ tiếp tục dùng tay, chân đánh Quốc V1, vừa đánh vừa hỏi “Ai dẫn mầy vào đám cưới chơi bài điếm?”, Quốc V1 trả lời “Tôi không biết, tôi chỉ cho thằng đó có giang”, do bị thương trên trán máu xuống mặt nên Quốc V1 van xin ba người này đừng đánh nữa. Khi đánh xong, K sử dụng điện thoại gọi cho Võ Hữu P1 qua số điện thoại 0932.980.xxx đến rước nhưng không điện được cho P1 nên K điện thoại cho Lâm Quang Thông Q mạng xã hội đến rước mình. Một lúc sau thì Huỳnh Văn H4 điều khiển xe mô tô biển số 65G1 - 212.12 chở Võ Hữu P1 đến gặp nhóm của K, Nguyễn Tuấn K kêu Huỳnh Văn H4 và Võ Hữu P1 quay xe lại bắt Trần Quốc V1 chở về lại bên chỗ đám cưới thì H4 và P1 đồng ý, H4 dừng xe lại cho P1 xuống xe, lúc này Trần Quốc V1 bị thương nhưng vẫn còn nhận thức được và V1 lên xe ngồi ở giữa, còn H4 điều khiển xe, P1 ngồi sau ôm Trần Quốc V1, H4 điều khiển xe chở ba người đi về hướng đám cưới tại xã G, Nguyễn Tuấn K cũng điều khiển xe chở Đ Công Văn và Phạm Hoàng H1 về đám cưới cùng nhóm H4, còn người thanh niên nhỏ tuổi điều khiển xe Dream đi một mình, đi được một đoạn thì gặp Lâm Quang T2 đi đến, K nhờ T2 kè xe của người thanh niên nhỏ tuổi về giúp, khi đi đến Cả L thì T2 để người này tự đi về.

Khi Huỳnh Văn H4 và Võ Hữu P1 chở Trần Quốc V1 về lại xã G, do biết việc K kêu chở V1 là vi phạm pháp luật nên khi chạy đến đám cưới nhà ông Trần Hoàng N2 thì H4 và P1 không dừng lại mà đi tiếp khoảng 50 mét H4 mới dừng xe lại bỏ Trần Quốc V1 xuống trước nhà thờ Hó thuộc ấp T, xã G rồi H4 và P1 đi về nhà. Lúc này Nguyễn Tuấn K chở Phạm Hoàng H1 và Đào Công V về lại đám cưới, H1 xuống xe rồi lấy xe của mình đi về nhà tại quận B, còn Đào Công V và Nguyễn Tuấn K tiếp tục đi đến chỗ của Trần Quốc V1, tại đây Công Văn và K cùng một số người khác (không rõ lai lịch) tiếp tục dùng tay chân đánh Trần Quốc V1. Nhìn thấy nhiều người đánh Trần Quốc V1 nên ông Trần Văn M và Đào Công V vào can ngăn không cho đánh Trần Quốc V1 nữa, đồng thời đưa V1 đi bệnh viện.

Theo giấy chứng nhận thương tích số 461/CN ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Bệnh viện Đ1, Trần Quốc V1 bị các vết thương như sau: vết thương trán (P) khoảng 6x1cm nham nhỡ; vết thương đỉnh đầu khoảng 5x1cm nham nhỡ; sây sát cẳng bàn tay hai bên, sây sát gối (T), hạn chế vận động gối (T). Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của Trần Quốc V1 và quyết định dẫn giải đi giám định nhưng bị hại kiên quyết từ chối nên không xác định được tỷ lệ thương tích của bị hại.

Quá trình điều tra, Trần Quốc V1 xác định 02 vết thương trên trán và trên đỉnh đầu là do các đối tượng dùng vật cứng đánh trúng trong lúc điều khiển xe, còn lại vết thương ở trên tay và chân là do lúc té xe gây nên. Ngoài ra trong lúc bỏ chạy qua hàng rào để trốn thì V1 bị rơi mất 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vertu loại bàn phím gắn sim số 0939885353, trong lúc bị các đối tượng chở đi thì đối tượng ngồi sau móc túi quần của Trần Quốc V1 lấy số tiền là 5.200.000 đồng. Quá trình điều tra xác định Võ Hữu P1 ngồi phía sau V1, P1 không thừa nhận lấy tiền của Trần Quốc V1, đến nay chưa có căn cứ để chứng minh P1 có hành vi chiếm đoạt tài sản của V1 nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với người tên K1 và Bảy qua xác minh tại phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ không xác định được họ tên, lai lịch cụ thể. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với một thanh niên đi xe Dream do các bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với Trần Văn Út N4 có truy đuổi theo nhóm Trần Quốc V1 một đoạn sau đó trở về lại đám cưới, Lâm Quang T2 có đi cùng với nhóm của K nhưng T2 đi đến sau, không có tham gia và không biết việc Nguyễn Tuấn K bắt giữ Trần Quốc V1 nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Trần Văn Út N4 và Lâm Quang T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục củng cố, đủ cơ sở xử lý sau.

Đối với hành vi đánh bạc của các đối tượng Võ Hữu H2, Nguyễn Minh N3, Trần Thái T3 và một số người khác, quá trình điều tra chỉ có lời khai của các đối tượng, không xác định được cụ thể số tiền thắng thua, không thu giữ được các vật chứng có liên quan nên chưa đủ căn cứ để xử lý hành vi đánh bạc của các đối tượng này. Qua tra cứu Võ Hữu H2, Nguyễn Minh N3, Trần Thái T3 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục củng cố, đủ cơ sở xử lý sau.

Ngoài ra, Nguyễn Tuấn K, Đào Công V và Phạm Hoàng H1 có hành vi cố ý gây thương tích cho Trần Quốc V1. Tuy nhiên do V1 có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P đã chuyển xử lý hành chính theo quy định.

* Phần dân sự: Nguyễn Tuấn K đã bồi thường cho Trần Quốc V1 số tiền 30.000.000 đồng. Bị hại Trần Quốc V1 đã nhận đủ và không có yêu cầu khác.

Tại bản án hình sự số 29/2024/HS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn K, Đào Công V, Phạm Hoàng H1, Võ Hữu P1 và Huỳnh Văn H4 phạm tội “Bắt người trái pháp luật”.

+ Áp dụng: khoản 1 Điều 157; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tuấn K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

+ Áp dụng: khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Đào Công V 06 (sáu) tháng tù.

bị cáo Phạm Hoàng H1 06 (sáu) tháng tù.

bị cáo Võ Hữu P1 03 (ba) tháng tù.

bị cáo Huỳnh Văn H4 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn phạt tù của các bị cáo tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 23/9/2024 các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Đào Công V, Phạm Hoàng H1, Võ Hữu P1 và Huỳnh Văn H4 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ nào mới.

Quan điểm bào chữa của Luật sư:

- Đối với bị cáo Nguyễn Tuấn K: bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, bị cáo tuân thủ quy định pháp luật, gia đình bị cáo có công cách mạng, bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại, người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Từ những tình tiết giảm nhẹ phân tích nêu trên Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Giảm mức án cho bị cáo K từ 09 tháng xuống 06 tháng và cho bị cáo được hưởng án treo.

- Đối với bị cáo Đào Công V: bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có địa chỉ rõ ràng, người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm hình phạt cho bị cáo từ 06 tháng xuống 03 tháng và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

- Đối với bị cáo Phạm Hoàng H1: bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng, gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tình tiết này được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm mức hình phạt cho bị cáo H1 từ 06 tháng xuống 03 tháng và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

- Đối với bị cáo H4 và bị cáo P1: 02 bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, các bị cáo không có ý định phạm tội, người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bản thân các bị cáo đang nuôi dưỡng con nhỏ, vợ không có việc làm nên đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà nhận định:

Xét thấy nội dung vụ án đã được làm rõ theo hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Bắt người trái pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo, đã xem xét toàn diện về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân đối với các bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo không bổ sung thêm chứng cứ gì mới để làm tình tiết xem xét.

Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Mặc dù không phải là người có thẩm quyền về việc bắt người khác theo quy định của pháp luật nhưng chỉ vì nghi ngờ bị hại là người cùng nhóm với đối tượng chơi bài gian lận nên các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Đào Công V, Phạm Hoàng H1, Võ Hữu P1 và Huỳnh Văn H4 vẫn thực hiện hành vi cưỡng ép bắt người trái phép đối với bị hại.

Hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật” với tình tiết định khung tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự, cấp sơ thẩm truy tố xét xử về tội danh và điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo:

[3.1] Các bị cáo đều là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân và còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, tạo tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì xem thường pháp luật, hung hãn mà các bị cáo bất chấp hậu quả thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Chưa kể giữa bị hại và các bị cáo không có mâu thuẫn gì cũng như không xác định được bị hại có tham gia việc đánh bài tại đám cưới hay không nhưng các bị cáo K, Công V và H1 vẫn truy đuổi và hành hung bị hại sau đó còn cùng H4, P1 cưỡng ép bị hại lên xe để quay về nhà ông N2. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để cải tạo, giáo dục đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3.2] Tiến trình tố tụng, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cũng như các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo K được áp dụng thêm tình tiết tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Việc cấp sơ thẩm xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trên đối với các bị cáo là phù hợp, có căn cứ.

Tại giai đoạn phúc thẩm, do bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho tất cả các bị cáo.

[3.3] Tuy nhiên, như đã đánh giá ở mục [3.1] các bị cáo phạm tội với cả chuỗi hành vi từ khi phát hiện và truy đuổi bị hại trên cả quãng đường dài, ngay cả khi bị cáo H4 và bị cáo P1 thả bị hại đi nhưng bị cáo K và bị cáo Công V vẫn đi tìm và tiếp tục hành hung bị hại. Do đó, mặc dù có xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng xét thấy mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng là thỏa đáng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo, đảm bảo được tính cá thể hóa hình phạt nên thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Ngoài ra, cấp sơ thẩm quyết định hình phạt 03 tháng tù đối với bị cáo Võ Hữu P1 và Huỳnh Văn H4 nhưng không nhận định áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự về việc áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là còn thiếu sót nên Hội đồng xét xử điều chỉnh áp dụng bổ sung, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Đào Công V, Phạm Hoàng H1, Võ Hữu P1 và Huỳnh Văn H4.
  2. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ (có điều chỉnh bổ sung điều luật áp dụng).

  3. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Đào Công V, Phạm Hoàng H1, Võ Hữu P1 và Huỳnh Văn H4 phạm tội “Bắt người trái pháp luật”.
  4. Áp dụng: khoản 1 Điều 157; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  5. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  6. Áp dụng: khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  7. Xử phạt: Bị cáo Đào Công V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Bị cáo Phạm Hoàng H1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  8. Áp dụng: khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  9. Xử phạt: Bị cáo Võ Hữu P1 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Bị cáo Huỳnh Văn H4 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  10. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  11. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  12. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Cơ quan tố tụng H. Phong Điền;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-PT ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về bắt người trái pháp luật

  • Số bản án: 10/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Bắt người trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger