Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/02/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Lan.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tiền

2. Bà Đoàn Thị Ngọc Hân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Đình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Hiền Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 537/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mai T, sinh năm: 1967, địa chỉ: Số C, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

* Bị đơn: Ông Bùi Gia P, sinh năm: 1969, địa chỉ: Số C, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

(Bà T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông P vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và các biên bản trong quá trình tố tụng tại tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị Mai T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Bùi Gia P tự nguyện kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng vào năm 2022 thì giữa bà và ông Bùi Gia P xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông Bùi Gia P bà yêu cầu ly hôn với ông P. Khi ly hôn, bà không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.

Về con chung: Có 01 con chung là Bùi Gia T1, sinh ngày 15/11/2007. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Bùi Gia P mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Bùi Gia P đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của ông Bùi Gia P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, các Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật.

Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71; bị đơn thực hiện chưa đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào nội dung trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện hôn nhân giữa bà T, ông P đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung giữa vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T. Về hôn nhân, bà T được ly hôn ông P. Ghi nhận bà T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung là Bùi Gia T1, sinh ngày 15/11/2007 giao cháu Bùi Gia T1 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận bà T tự nguyện không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục, cấp dưỡng con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con bà T, ông P có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82,83, 84 Luật HN&GĐ.

Về tài sản chung: Bà T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

Về nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa bà Phạm Thị Mai T và ông Bùi Gia P là tranh chấp về ly hôn, bị đơn ông P có nơi cư trú tại số C, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai; bà T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 288 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông P.

[2] Về hôn nhân: Bà T và ông P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/03/2008 nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, bà T xác định giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường xuyên cự cãi. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng ông P vắng mặt, không tham gia hòa giải, điều đó cho thấy ông P không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng hiện bà T, ông P không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, quá trình chung sống hai bên cũng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được, nay bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông P. Từ đó có cơ sở để xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

[3] Về con chung: Bà T và ông P có 01 con chung là Bùi Gia T1, sinh ngày 15/11/2007 hiện đang sống chung với ba mẹ. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại cháu T1 vẫn đang sống với bà T và ông P. Tại biên bản ghi nhận ý kiến con ngày 29/11/2024 cháu T1 có nguyện vọng được sống chung với cả ba và mẹ. Qúa trình giải quyết vụ án ông P đã được Tòa án thông báo về việc bà T yêu cầu ly hôn và yêu cầu được nuôi con nhưng ông P không có ý kiến và cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với các yêu cầu của bà T, điều đó chứng tỏ ông đã mặc nhiên từ bỏ quyền nuôi con của mình. Vì vậy việc giao con chung cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận bà T tự nguyện không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

[5] Về nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

[6] Về án phí: Bà T là người khởi kiện yêu cầu ly hôn nên chị phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Mai T được ly hôn với ông Bùi Gia P. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cháu Bùi Gia T1, sinh ngày 15/11/2007 cho bà T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Ghi nhận việc bà T tự nguyện không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà T được quyền trực tiếp nuôi con không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc cấp dưỡng nuôi con

  3. Về tài sản chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
  4. Về nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
  5. Về án phí: Bà Phạm Thị Mai T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006114 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Bà T đã nộp xong án phí.

Bà T, ông P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Thanh Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, bà T được ly hôn với ông P.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger