Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07-02-2025.

V/v ly hôn, tranh chấp

nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Tài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phước
  2. Ông Phạm Hữu Thắng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 177/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy P, sinh năm 1982 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số G, đường T, Khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Hồ Thanh Đ, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số B, đường C, Khóm E, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/8/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy P và ông Hồ Thanh Đ là vợ chồng, tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ngày 14-02-2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến khoảng năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, không còn yêu thương, quan tâm với nhau, dẫn đến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2014 đến nay.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Nguyễn Thị Thùy P và ông Hồ Thanh Đ có 02 (hai) con chung tên là Hồ Phương A (nữ), sinh ngày 06-5-2008 và Hồ Minh Q (nam), sinh ngày 17-11-2014. Hiện nay cháu A và cháu Q đang sống cùng bà P.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Hồ Thanh Đ.

Về con chung: Sau khi ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung tên là Hồ Phương A (nữ), sinh ngày 06-5-2008 và Hồ Minh Q (nam), sinh ngày 17-11-2014. Yêu cầu ông Hồ Thanh Đ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Hồ Phương A mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp dưỡng nuôi con cho cháu Hồ Minh Q mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 02 năm 2025 cho đến khi cháu A và cháu Q tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hồ Thanh Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa.

Đối với bị đơn ông Hồ Thanh Đ đã không chấp hành việc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về sự vắng mặt của bị đơn ông Hồ Thanh Đ, xét thấy: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng vắng mặt không lý do đến lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn với ông Hồ Thanh Đ. Thấy rằng: Bà Nguyễn Thị Thùy P và ông Hồ Thanh Đ là vợ chồng, tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ngày 14-02-2007. Nên hôn nhân giữa bà P và ông Đ là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, đến năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không phù hợp làm cho đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông Đ đến làm việc và hòa giải nhưng ông không đến cũng như không có văn bản trình bày ý kiến, chứng tỏ ông Đ không thiện chí muốn hòa giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng để quay về đoàn tụ. Xét thấy, những mâu thuẫn trên thể hiện được tình trạng hôn nhân của bà P và ông Đ đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được. Từ năm 2014 đến nay, ông bà không còn sống chung với nhau như vợ chồng, thể hiện được cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, ông bà không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P.

[3] Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con sau khi ly hôn của nguyên đơn. Thấy rằng, cháu Hồ Phương A (nữ), sinh ngày 06-5-2008 và Hồ Minh Q (nam), sinh ngày 17-11-2014, hiện nay đang sinh sống ổn định với bà P. Bà Nguyễn Thị Thùy P hiện đang là giáo viên nên có công việc ổn định và thời giam chăm sóc, giáo dục con cái. Đồng thời, tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 17/12/2024, cháu Hồ Phương A và cháu Hồ Minh Q có nguyện vọng được sống cùng bà P. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu nuôi con sau khi ly hôn của bà P.

Về việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, thấy rằng việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Cháu Hồ Phương A và Hồ Minh Q, hiện nay đang sinh sống cùng bà P, nên bà P yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ chấp nhận. Về mức cấp dưỡng mà bà P yêu cầu không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con nên có căn cứ chấp nhận.

Hồi đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 82, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà P về việc yêu cầu ông Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Hồ Thanh Đ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Hồ Phương A mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp dưỡng nuôi con cho cháu Hồ Minh Q mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 02 năm 2025 cho đến khi cháu A và cháu Q tròn 18 tuổi.

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Do đó, sau khi ly hôn, ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung là cháu Hồ Phương A và Hồ Minh Q không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Nguyên đơn trình bày là không có, không yêu cầu. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày là không có, không yêu cầu. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Thùy P phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn. Ông Hồ Thanh Đ phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, đểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ: Khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy P được ly hôn với ông Hồ Thanh Đ.

2. Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Thùy P được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung tên là Hồ Phương A (nữ), sinh ngày 06-5-2008 và Hồ Minh Q (nam), sinh ngày 17-11-2014.

Ông Hồ Thanh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Hồ Phương A mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp dưỡng nuôi con cho cháu Hồ Minh Q mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 02 năm 2025 cho đến khi cháu A và cháu Q tròn 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, ông Hồ Thanh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung là cháu Hồ Phương A và cháu Hồ Minh Q không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Thùy P phải chịu án phí về ly hôn số tiền 300.000 đồng; Sau khi cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002111 ngày 18/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, bà P đã nộp xong án phí.

- Ông Hồ Thanh Đ phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con số tiền 300.000 đồng;

5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSNDTP Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - UBND Phường 2, TPST; - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Lê Phước Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thi Thuỳ P - Hồ Thanh Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger