Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06-02-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thảo;
  2. Ông Tống Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 452/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vũ Thị L, sinh năm 1988; nơi thường trú: Tổ 6, khu phố 3, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Ông Đào Hồng Đ, sinh năm 1987; nơi thường trú: Tổ 4, khu phố 5, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 10 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Vũ Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị L và ông Đào Hồng Đ tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận kết hôn số 31, quyển số I/2012 ngày 27/3/2012. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống và làm ăn tại Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2016, hai vợ chồng sinh sống và làm công ty tại Bình Dương cho đến nay. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương chăm sóc nhau nhưng vào tháng 09/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do ông Đào Hồng Đ không chăm lo cho vợ con, tham gia đánh bạc trên mạng đã nhiều lần được gia đình hai bên và bà L khuyên ngăn, trả nợ cho ông Đ và cho cơ hội thay đổi nhưng ông Đ không thay đổi. Cuộc sống gia đình do một mình bà L lo liệu. Vợ chồng hiện đã ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Bà L nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà Vũ Thị L yêu cầu được ly hôn với ông Đào Hồng Đ.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đào Vũ Công H, sinh ngày 16/02/2016 và Đào Vũ Mai C, sinh ngày 10/02/2019. Khi ly hôn, bà L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung; không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đào Hồng Đ đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển giao tài liệu, chứng cứ nguyên đơn khởi kiện, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Đ không đến Tòa án, cũng không nộp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng.

Theo biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường H và Công an phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, được cung cấp thông tin như sau: Ông Đào Hồng Đ và bà Vũ Thị L trong quá trình sinh sống tại địa phương Uỷ ban nhân dân phường H không nhận được đơn thư hay phản ánh của bà L cũng như ông Đ liên quan đến quan hệ hôn nhân, nuôi con chung. Do đó, địa phương không biết giữa vợ chồng ông bà có tên nêu trên mâu thuẫn như thế nào; ông Đào Hồng Đ có hộ khẩu thường trú tại tổ 4, khu phố 5, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Theo bản tự khai của cháu Đào Vũ Công H trình bày: Hiện tại cháu đang sống với mẹ, nếu ba mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương phát biểu tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên.

- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xác minh thu thập, hòa giải được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của người tham gia tố tụng, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên: Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị L được ly hôn với ông Đào Hồng Đ; về con chung: Giao con chung tên Đào Vũ Công H, sinh ngày 16/02/2016 và Đào Vũ Mai C, sinh ngày 10/02/2019 cho bà Vũ Thị L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; ông Đào Hồng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Vũ Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đào Hồng Đ và yêu cầu giao quyền nuôi con sau khi ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo kết quả xác minh và quá trình giải quyết vụ án xác định, ông Đào Hồng Đ, sinh năm 1987 có hộ khẩu thường trú tại tổ 4, khu phố 5, phường Hội Nghĩa, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Việc vắng mặt của bị đơn ông Đào Hồng Đ: Theo Kết quả xác minh của Công an phường Hội Nghĩa, ông Đào Hồng Đ có đăng ký địa chỉ thường trú tại tổ 4, khu phố 5, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương hiện tại đi đâu, làm gì không rõ. Tòa án đã tống đạt hợp lệ, thông báo đăng thông tin về thời gian giải quyết vụ án trên Báo Thanh Niên vào các ngày 16/12/2024, 17/12/2024, 18/4/2024, trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào khung giờ từ 06 giờ 30 phút đến 07 giờ 00 phút và từ 14 giờ 30 phút đến 15 giờ 00 phút vào các ngày 16/12/2024, 17/12/2024, 18/4/2024 và đăng thông tin trên Cổng thông tin điện tử - Tòa án nhân dân Tối cao. Tại thời điểm xét xử vụ án, ông Đào Hồng Đ vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông Đào Hồng Đ.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị L và ông Đào Hồng Đ chung sống với nhau trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hương, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận kết hôn số 31, quyển số I/2012 ngày 27/03/2012. Theo quy định tại các Điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Về mâu thuẫn vợ chồng: Bà Vũ Thị L xác định đời sống hôn nhân giữa bà và chồng là ông Đào Hồng Đ không còn hạnh phúc. Vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm, ông Đ sống không có trách nhiệm với vợ con, tham gia đánh bạc trên mạng không lo lắng cho gia đình. Bà L đã nhiều lần cho cơ hội nhưng ông Đ không thay đổi. Vợ chồng đã ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Cả hai đã đưa ra nhiều giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả nên bà Vũ Thị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đào Hồng Đ.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Đ vẫn không đến Tòa án, cho thấy ông Đ không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Về phía bà L, trong quá trình tố tụng xác định hoàn toàn không còn tình cảm và không muốn tiếp tục chung sống với ông Đ. Xét thấy, quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau giữa vợ và chồng nhưng quan hệ hôn nhân của bà L và ông Đ đã không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà L và ông Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà L có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đ là có cơ sở chấp nhận.

[5] Về việc nuôi dưỡng con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đào Vũ Công H, sinh ngày 16/02/2016 và Đào Vũ Mai C, sinh ngày 10/02/2019. Khi ly hôn, bà L yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Xét thấy, việc bà L yêu cầu ly hôn với ông Đ và yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con các con chung. Tại bản tự khai của cháu Đào Vũ Công H có nguyện vọng được sống với mẹ; cháu Đào Vũ Mai C còn nhỏ tuổi hiện đang sống cùng mẹ. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định và không làm xáo trộn việc học hành và nguyện vọng của các cháu nên giao các con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Vũ Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[9] Về chi phí tố tụng: Chi phí đăng, tống đạt văn bản trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao, Báo Thanh niên; Đài Tiếng nói Việt Nam là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); nguyên đơn chịu, đã nộp xong.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các điều 28, 35, 39, 146, 147, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các điều 56, 57, 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 86 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Đào Hồng Đ như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị L được ly hôn với ông Đào Hồng Đ.

- Về việc nuôi con chung: Giao con chung tên Đào Vũ Công H, sinh ngày 16/02/2016 và Đào Vũ Mai C, sinh ngày 10/02/2019 cho bà Vũ Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Ông Đào Hồng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Vũ Thị L và ông Đào Hồng Đ đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Vũ Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004643 ngày 12-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Về chi phí tố tụng: Chi phí đăng, tống đạt văn bản trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao, Báo Thanh niên; Đài Tiếng nói Việt Nam là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); nguyên đơn chịu, đã nộp xong.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - UBND xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Các đương sự (Để thi hành);
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Lài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa bà Vũ Thị L với ông Đào Hồng Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger