|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HS-ST
Ngày 04 tháng 02 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phan Hoàng Mai và ông Phạm Ngọc Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Phú Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét sử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS, ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm: 1997, tại thành phố L, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1967 và bà Hà Thị Kim C, sinh năm 1967; C1 sống như vợ chồng với Nguyễn Ngọc T1 (hiện không còn sống chung); có 01 con sinh năm 2021.
Nhân thân: Ngày 16 tháng 9 năm 2014, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 tháng 05 ngày tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong bản án. Ngày 27 tháng 6 năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng, đã chấp hành xong quyết định.
- Tiền án: Ngày 18 tháng 02 năm 2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 02 tháng 11 năm 2022 chấp hành xong bản án.
- Tiền sự: Không.
2
- Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 29 tháng 10 năm 2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).
- Bị hại: Anh Trịnh Quốc C2, sinh năm: 1997; Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. ĐT: 0707.624.xxx (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T là bạn của anh Trịnh Quốc C2, khoảng 18 giờ ngày 29 tháng 4 năm 2024, anh C2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Neo, màu sơn đen - xám - biển số 67K1-897.04 đến quán C3 ở khóm T, phường M, thành phố L uống cà phê với T. Trong lúc uống cà phê, T hỏi mượn xe mô tô 67K1-897.04 của anh C2 để đi đón H (chưa rõ họ, địa chỉ) là bạn gái của T đang học ở Trường Cao đẳng N1, phường B, thành phố L thì anh C2 đồng ý cho T mượn xe. T điều khiển xe mô tô 67K1-897.04 đến Trường Cao đẳng N1 chở H đến nhà nghỉ V ở gần cầu T, phường B, thành phố L thuê phòng cho H nghỉ. Do cần tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 67K1-897.04 của anh C2. Do không có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nên khoảng 19 giờ cùng ngày anh C2 điện thoại bảo T trả xe thì T nói dối xe mô tô bị Công an phường B tạm giữ do T không đội mũ bảo hiểm và kêu anh C2 đưa giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 67K1-897.04 cho T để T đi nhận xe. Anh C2 không đồng ý đưa giấy chứng nhận xe cho T mà bảo cùng đi với T nên T hẹn anh C2 ngày 30 tháng 4 năm 2024 cùng đến trụ sở Công an phường nộp phạt, nhận xe.
Đến ngày 30 tháng 4 năm 2024, anh C2 điện thoại cho T thì T nói dối do ngày lễ nên Công an không làm việc và tiếp tục hẹn anh C2 đến ngày 03 tháng 5 năm 2024 sẽ nhận xe trả lại cho anh C2. T khai lúc này xe mô tô biển số 67K1-897.04 Thiện để ở nhà nghỉ V.
Khoảng 10 giờ ngày 03 tháng 5 năm 2024, T điện thoại cho anh C2 nói dối là nhờ người quen làm ở Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L đi nhận xe nên kêu anh C2 đến nhà chở T đến Ủy ban nhân dân phường M. Đến đây, T bảo anh C2 đưa giấy chứng nhận đăng ký xe cho T. Sau khi nhận giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, T đi vào trong Ủy ban nhân dân phường M ngồi chờ anh C2 điều khiển xe bỏ đi thì trở ra thuê xe mô tô khách chở đến nhà nghỉ V lấy xe mô tô 67K1-897.04 điều khiển đến khu vực phà A, phường M, thành phố L nhờ người đàn ông chưa rõ nhân thân bán xe mô tô 67K1-897.04 với giá 5.500.000 đồng. Khoảng 11 giờ cùng ngày anh C2 không điện thoại cho T được nên đến nhà tìm T nhưng không gặp. Ngày 13 tháng 8 năm 2024, anh C2 đến Công an phường M tố giác hành vi của T.
Kết luận định giá tài sản số 1660/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, xác định: Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu H1, loại xe số, số khung 062229, số máy 462186, màu sơn
3
đen - xám - bạc, biển số 67K1-897.04, trị giá 22.400.000 đồng. Ngày 29 tháng 10 năm 2024, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L bắt tạm giam để điều tra.
Trong quá trình điều tra, anh Trịnh Quốc C2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường 22.400.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSLX ngày 13 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự: Đề nghị buộc bị cáo T bồi thường cho anh Trịnh Quốc C2 số tiền 22.400.000 đồng.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
-
Về thủ tục tố tụng: Bị hại vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt tại phiên toà không gây cản trở cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
-
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
4
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Ngày 29 tháng 4 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn T lợi dụng việc anh Trịnh Quốc C2 cho mượn xe mô tô trị giá 22.400.000 đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt xe đem bán lấy tiền tiêu xài. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát truy tố.
-
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe và đầy đủ năng lực nhận thức cũng như điều khiển hành vi của mình. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng đưa đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy và có 01 tiền án nhưng chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm. Lẽ ra, sau khi về địa phương bị cáo phải tìm cho mình một việc làm ổn định tạo thu nhập để nuôi sống bản thân, lo cho gia đình và đóng góp cho xã hội. Nhưng trái lại, chỉ vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ nhiều công sức nên bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng của bị hại có hành vi chiếm đoạt tài sản là xe mô tô biển số 67K1-897.04 của anh Trịnh Quốc C2 trị giá 22.400.000 đồng để bán lấy tiền tiêu xài.
Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung.
-
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới với lỗi cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại Trịnh Quốc C2 thì phải có trách nhiệm bồi thường. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo kết luận định giá tài sản của cơ quan chuyên môn. Do đó, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 22.400.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
-
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
-
Về phần án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
5
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 29 tháng 10 năm 2024.
-
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho anh Trịnh Quốc C2 số tiền 22.400.000 đồng (hai mươi hai triệu, bốn trăm nghìn đồng).
-
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.120.000 đồng (một triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Dung |
6
7
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 04/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thiện
