Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHO QUAN

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày:23-01-2025

V/v: Ly hôn, giải quyết về con chung khi

ly hôn.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Khắc Thái.

- Ông Nguyễn Văn Phiếu.

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Ngọc Tạo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 241/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐ-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu T, sinh năm 1986
  • Địa chỉ: Bản A, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
  • Hiện chị T đang ở tại: Bến đò P, Thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.
  • - Bị đơn: Anh Đinh Văn T1, sinh năm 1985
  • Địa chỉ: Bản A, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
  • Chị T có đơn xin vắng, anh T1 vắng mặt lần 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 10 năm 2024, bản tự khai và các biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Trần Thị Thu T trình bày:

Về diễn biến quan hệ hôn nhân và gia đình: Chị và anh Đinh Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có thực hiện việc đăng ký tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình vào năm 2022. Sau khi cưới anh chị sinh sống tại xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Tháng 6/2023 vì công việc nên chị đã chuyển về Nam Định sinh sống. Tuy nhiên hai bên chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên không hợp nhau, anh T1 không quan tâm đến vợ con, chơi bời không chịu tu chí làm ăn. Hiện tại anh chị đã ly thân, mỗi người sinh sống một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, thời gian ly thân đã lâu không ai quan tâm đến ai. Vì vậy chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nho Quan giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Văn T1.

Về con chung: Chị T xác định chị và anh T1 có 01 con chung là cháu Đinh Phúc Lâm S ngày 13/8/2022, hiện cháu đang ở với chị. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì chị xin tiếp tục nuôi cháu và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con với mức 3.000.000đ/tháng cho cháu kể từ tháng 12/2024 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đinh Văn T1: Theo xác minh hiện nay anh vẫn đang sinh sống cùng bố mẹ đẻ anh tại Bản A, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên khi Tòa án tống đạt các thông báo và giấy báo hợp lệ cho anh nhưng anh vẫn không sang Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gửi về cho Tòa án.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan đã tiến hành giải quyết theo quy định. Do anh T1 không đến tham gia các phiên hòa giải vì vậy vụ án không tiến hành hòa giải được, vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Đến 14h ngày 09/01/2025 thì anh T1 có đến Tòa án và trình bày: Anh dã nhận được các Thông báo cũng như quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án, tuy nhiên do công việc nên anh không đến Tòa làm việc được. Anh xác định thời điểm kết hôn và chung sống như chị T trình bày là đúng. Tuy nhiên mâu thuẫn giữa anh và chị T chỉ là hiểu lầm nhỏ, anh xác định không có mâu thuẫn trầm trọng, anh không muốn ly hôn mà anh đang muốn có thời gian thuyết phục chị T để vợ chồng anh đoàn tụ. Về con chung: anh xác định có 01 con chung là cháu Đinh Phúc Lâm S ngày 13/8/2022, hiện cháu đang ở với chị T. Trong thời gian cháu ở với chị T thì anh vẫn có trách nhiệm với cháu và vẫn chu cấp cho con mỗi tháng là 3.000.000 đồng, do không muốn ly hôn nên anh chưa có quan điểm về việc nuôi con. Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không có ý kiến gì.

Tại đơn xin xử vắng mặt chị T vẫn giữ quan điểm như đơn khởi kiện và bản tự khai.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú tại xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Toà án nhân dân huyện Nho Quan thụ lý giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015.

- Việc xác định quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện, Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” là đúng quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo về hình thức, nội dung.

- Thời hạn gửi hồ sơ, văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát: Đảm bảo quy định của pháp luật, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Việc giao nộp tài liệu chứng cứ: Thực hiện đúng các quy định tại Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các tài liệu là bản sao đều có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.Bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Đề nghị HĐXX: Áp dụng các Điều 5, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTCQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí.

Đề nghị xử:

  1. Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Thu T2 ly hôn với anh Đinh Văn T1.
  2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Đinh Phúc Lâm S ngày 13/8/2022 cho chị T2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập được cuộc sống.

Anh Đinh Văn T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T2 mỗi tháng 3.000.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 12/2024 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

Vì lợi ích của con, khi có lí do chính đáng một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

3. Nguyên đơn chị Trần Thị Thu T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định của pháp luật được đối trừ vào số tiền 300.000đồng chị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan.

Anh Đinh Văn T1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1].Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:

[2.1].Về hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống hạnh phúc được với nhau thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên không hợp nhau về mọi mặt, thực tế hai bên đã ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Đối với anh T1 trong suốt quá trình Tòa án thụ lý vụ án anh biết nhưng cũng không đến trình bày quan điểm, khi vụ án được đưa ra xét xử thì anh lại muốn có thời gian để thuyết phục chị T đoàn tụ, thể hiện anh không có thiện chí cải thiện quan hệ vợ chồng. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh T1 là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2]. Về nuôi con chung: Chị T với anh T1 có 01 con chung là cháu Đinh Phúc Lâm S ngày 13/8/2022, hiện cháu đang ở với chị T. Chị T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu. Hội đồng xét xử xét thấy, chị T khỏe mạnh có thu nhập, cháu L còn nhỏ lại nên cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ hơn. Vì vậy việc giao cháu L cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là đảm bảo quyền và lợi ích cho cháu và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con với mức 3.000.000đ/tháng cho cháu kể từ tháng 12/2024 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy, bản thân anh T1 thừa nhận vẫn chu cấp cho con mỗi tháng là 3.000.000 đồng, vì vậy mức cấp dưỡng chị T đưa ra là phù hợp với khả năng kinh tế của anh T1 cần được chấp nhận.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4]. Về án phí:

  • - Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Thu T phải chịu theo quy định của pháp luật.
  • - Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Đinh Văn T1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Các điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thu T ly hôn với anh Đinh Văn T1.
  2. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Đinh Phúc Lâm S ngày 13/8/2022, hiện cháu đang ở với chị T cho chị T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Anh Đinh Văn T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng là 3.000.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng là tháng 12/2024 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày chị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh T1 không thi hành hết số tiền cấp dưỡng nuôi con theo thỏa thuận thì hàng tháng anh T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về án phí:
  • 3.1. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001403 ngày 22/10/2024của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan.
  • 3.2. Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Đinh Văn T1 phải chịu 300.000 đồng.
  1. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Nho Quan;
  • - Chi cục THADS huyện Nho Quan;
  • - UBND xã Kỳ Phú
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Thị Hương Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án 10
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger