|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA Bản án số: 10/2024/HS-ST Ngày: 12-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Cát Tưởng - Nghề nghiệp: Nguyên giáo viên trường THCS Tân Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Nguyễn Đình Vụ
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Trịnh Công S - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: P4, sinh ngày: 13/11/ 1993; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Số thẻ CCCD: [...]; Nơi ĐKHKTT: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Quang Ú Hvà bà: Nguyễn Thị T; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/7/2024 đến ngày 01/8/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T1(Có mặt).
+ Bị hại:
1.Cháu Lê Trí D ngày 19/5/2008. (Có mặt).
Người đại diện theo pháp luật cho bị hại Lê Trí D: Bà Phạm Thị P năm 1972 (mẹ cháu D. (Có mặt).
Địa chỉ: Số 16c/11 Tô Vĩnh Diện, phường Điện Biên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2.Cháu Hoàng Q H1 sinh 24/3/2007. (Vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật cho bị hại Hoàng Q H1: Bà Dương Nguyễn U P1 sinh năm 1976 (mẹ cháu H. (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Chung cư B, nhà A, phòng A, Tổ G, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1.Bà Phạm Thị P năm 1972. (Có mặt).
Địa chỉ: Số 16c/11 Tô Vĩnh Diện, phường Điện Biên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2.Bà Lê Thị N năm 1948. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Chung cư B house, nhà A, phòng A, Tổ G, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 20/7/2024 đến ngày 24/7/2024, P5 thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố T và thành phố Đ thể các lần phạm tội như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 20/7/2024, Phạm Quốc S1 đi bộ đến quán I có địa chỉ ở E N, phường Đ, thành phố T chơi game. Chơi game đến khoảng 15 giờ cùng ngày S1 nhìn thấy 01 chìa khóa xe mô tô (loại khóa xe thông minh) của cháu Lê Trí D2 để ở bàn bên cạnh chỗ ngồi của S1 lợi dụng lúc anh D2 đi sang phòng game khác S2 lén lút cầm chìa khóa xe rồi đi bộ ra ngoài quán và bấm chìa khóa xe thì thấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B7-06515 sáng đèn. S1 đi đến chỗ chiếc xe đang dựng rồi mở khóa và điều khiển xe chạy ra thành phố Hà Nội. Đến sáng ngày 21/7/2024, S2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B7-06515 ra khu vực gần công viên T bán chiếc xe cho một nam thanh niên khoảng 30 tuổi với số tiền 3.000.000đ. Sau đó S1 bắt xe khách đi vào thành phố Đà Nẵng và tiêu xài cá nhân hết số tiền bán xe.
Lần thứ hai: Ngày 24/7/2024, P6 ở quán Internet có địa chỉ C Ông Í, phường T, quận H, thành phố Đ game đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, S1 đi ra ngoài quán
thì nhìn thấy 01 xe mô tô biển kiểm soát 43E1-27657 của cháu Hoàng Q H1 đang cắm chìa khóa trên xe dựng trên vỉa hè nên S1 nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. S1 lén lút ngồi lên xe và nổ máy điều khiển xe chạy về hướng huyện H, thành phố Đ tiếp tục chơi game.
Sáng ngày 26/7/2024 do lo sợ và hối hận về hành vi phạm tội của mình nên Phạm Quốc S1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T về hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Ngày 26/7/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố T: 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B7- 06515 trị giá 17.000.000đ. Ngày 06/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận H: 01 xe mô tô biển kiểm soát 43E1-27657 trị giá 9.817.000đ. Tổng trị giá tài sản Phạm Quốc S1 trộm cắp là 26.817.000đ.
Về dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ chiếc xe mô tô biển kiểm soát 43E1-276.57 từ P7 trả lại xe cho bà Lê Thị N1 chủ sở hữu chiếc xe (bà nội anh H1 hại Hoàng Q H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị N2 nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì đối với phần dân sự. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B7-065.15 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng đối với chiếc xe nhưng không có kết quả, người bị hại Lê Chí D1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị P1 chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B7-065.15 (mẹ D1 yêu cầu P bồi thường số tiền tương ứng với trị giá chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B7-06515.
Cáo trạng số 306/CT-VKSTP ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Phạm Quốc S1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quốc S1 khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Phạm Quốc S2 tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 24 tháng đến 27 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B7 – 065.15 số tiền 17.000.000đ cho bà Phạm Thị P2
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST.
Bị hại và đại diện cho bị hại có mặt tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và yêu cầu bị cáo phải bồi thường lại giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B7-065.15
Bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự để bị cáo được nhanh chóng trở về với xã hội, gia đình và có điều kiện chăm sóc cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 15 giờ ngày 20/7/2024 tại trước cửa quán I1 tại số E, phường Đ, thành phố T S1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B7-065.15 trị giá 17.000.000đ của cháu Lê Trí D3 khoảng 21 giờ 50 phút ngày 24/7/2024 tại trước cửa quán I1 tại số C Ông Í, phường T, quận H, thành phố Đ S1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển kiểm soát 43E1-276.57 trị giá 9.817.000đ của cháu Hoàng Q H1 Tổng trị giá tài sản bị trộm cắp là 26.817.000đ.
Do vậy hành vi của P5 tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng và quan điểm luận tội của Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bị cáo tuy có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ sức khỏe nhưng không chịu lao động, tu dưỡng bản thân mà lại ham chơi, hám lợi, tham lam, dù nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn nhiều lần thực hiện, nên cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội hai lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú đối với hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe mô tô BKS 36B7-065.15, bị cáo có bà ngoại là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta.
[5] Về bồi thường dân sự:
- Đối với tài sản bị trộm cắp là 01 xe moto biển kiểm soát 43E1-276.57 Cơ quan CSĐT đã thu giữ từ Phạm Quốc S1 và trả lại xe cho bà Lê Thị N1 chủ sở hữu chiếc xe (bà nội cháu H1 cháu H1 và bà N2 nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B7-065.15 sau khi bị cáo S3 thực hiện hành vi trộm cắp và đã bán cho một người đàn ông tại Hà Nội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng đối với chiếc xe nhưng không có kết quả, người bị hại cháu Lê Chí D1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị P1 chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B7-065.15 (mẹ cháu D1 yêu cầu P bồi thường số tiền tương ứng với giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B7-065.15 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận, buộc bị cáo Phạm Quốc S3 bồi thường cho chị Phạm Thị P3 tiền 17.000.000đ.
[6] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a và điểm c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc S4 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc S5 (hai mươi tư) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/7/2024.
Về dân sự: Buộc bị cáo Phạm Quốc S4 phải bồi thường cho chị Phạm Thị P3 tiền 17.000.000đ
Về án phí: Buộc cáo Phạm Quốc S1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 850.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện cho bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |
Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 10/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Quốc S phạm tội trộm cắp tài sản
