TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST Ngày 02-12-2024. V/v: Ly hôn giữa chị Chuyên và anh Ước. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Quàng Văn Mầng.
- Bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20/11/2024 và ngày 02/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị C, sinh năm 1997.
Trú tại: Bản X, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Quàng Văn Ư, sinh năm 1995.
Trú tại: Bản X, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lường Ngọc C1, Luật sư. Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2024, trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Lò Thị C trình bày:
Chị và anh Quàng Văn Ư kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 05/10/2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Cuộc sống chung không hạnh phúc, đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai người bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không khắc phục được. Từ nhiều năm hai người sống không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị Lò Thị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh Quàng Văn Ư.
Về con chung: Có một con là Quàng Xuân T, sinh ngày 19/8/2018. Chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con, nhưng do điều kiện đi làm ăn xa nên để anh Quàng Văn Ư nuôi con và không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Lò Thị C trình bày về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của anh Quàng Văn Ư: Do hiện tại chị không có công việc, không có thu nhập, nên không có khả năng cấp dưỡng, sau này khi có thu nhập chị sẽ tự cấp dưỡng để nuôi con.
Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Quàng Văn Ư trình bày: Anh xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị C và anh Quàng Văn Ư. Xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với lời khai của nguyên đơn chị Lò Thị C. Xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được và anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có một con là Quàng Xuân T, sinh ngày 19/8/2018. Hiện con đang ở với anh và anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị Lò Thị C cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa anh có ý kiến thay đổi xin cấp dưỡng nuôi con, anh đề nghị tạm ngừng phiên tòa để cung cấp đơn và tài liệu về yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, riêng, nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Lò Thị C được ly hôn anh Quàng Văn Ư. Về con chung: Giao cho anh Quàng Văn Ư trực tiếp nuôi con Quàng Xuân T, sinh ngày 19/8/2018 là đúng nguyện vọng của các đương sự. Chị Lò Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, riêng, nợ: Nguyên đơn đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên đơn chị Lò Thị C chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:
Có căn cứ xử cho chị Lò Thị C được ly hôn anh Quàng Văn Ư.
Con chung: Giao cho anh Quàng Văn Ư trực tiếp nuôi con Quàng Xuân T, sinh ngày 19/8/2018 là đúng nguyện vọng của các đương sự, chị Lò Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lò Thị C chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Chị Lò Thị C là dân tộc thiểu số cư trú vùng KT-XH đặc biệt khó khăn, thuộc diện trợ giúp có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là căn cứ.
Nguyên đơn chị Lò Thị C có đơn đề nghị xử vắng mặt tại phiên tòa, đồng thời có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có mặt để bảo vệ cho nguyên đơn.
Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt nguyên đơn chị Lò Thị C.
Anh Quàng Văn Ư có mặt tại phiên tòa, nhưng vắng mặt khi tuyên án. Căn cứ theo quy định Điều 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử tuyên án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị C và anh Quàng Văn Ư có đăng ký kết hôn, có tìm hiểu, tự nguyện là đúng pháp luật. Cuộc sống chung hoà thuận thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do hai người bất đồng quan điểm sống. Hai người sống ly thân đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau, xét mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được là có căn cứ.
Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị Lò Thị C và anh Quàng Văn Ư đã được gia đình và chính quyền khuyên giải, đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị Lò Thị C yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận xử cho chị Lò Thị C được ly hôn anh Quàng Văn Ư.
[3] Về con chung: Có một con là Quàng Xuân T, sinh ngày 19/8/2018. Căn cứ vào nguyện vọng của chị Lò Thị C do đi làm xa để con cho anh Quàng Văn Ư nuôi dưỡng, là đúng nguyện vọng của anh Quàng Văn Ư, nên cần chấp nhận giao cho anh Quàng Văn Ư trực tiếp nuôi dưỡng con Quàng Xuân T, sinh ngày 19/8/2018, theo quy định của Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về Cấp dưỡng: Anh Quàng Văn Ước muốn chị Lò Thị C cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa để đương sự cung cấp đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ về yêu cầu cấp dưỡng. Nhưng anh Quàng Văn Ư không cung cấp, nên không có căn cứ để xem xét trong vụ án này, theo quy định của Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về ý kiến đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Xử cho chị Lò Thị C được ly hôn anh Quàng Văn Ư. Anh Quàng Văn Ư trực tiếp nuôi con Quàng Xuân T, sinh ngày 19/8/2018. Chị Lò Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con. Không giải quyết về tài sản chung, riêng, nợ do nguyên đơn không yêu cầu. Chị Lò Thị C tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hội đồng xét xử thấy lời đề nghị trên là có căn cứ chấp nhận.
Chị Lò Thị C đã được giải thích thủ tục miễn án phí, nhưng chị không cần miễn án phí. Chị Lò Thị C chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:
- Xử cho chị Lò Thị C được ly hôn anh Quàng Văn Ư.
- Về con chung: Giao cho anh Quàng Văn Ư trực tiếp nuôi con Quàng Xuân T, sinh ngày 19/8/2018. Chị Lò Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
- Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lò Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000, đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001703 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La..
Chị Lò Thị C, anh Quàng Văn Ư được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) (đã ký) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 02/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về ly hôn
- Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án TC ly hôn giữa chị Lò Thị Chuyên và anh Quàng Văn Ước
