TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HSST Ngày 19/11/2024 | ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lý Văn Liêm;
- Ông Vũ Anh Đức.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Biên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST- HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 06/11/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 15/7/1982, tại Chợ M - Bắc Kạn; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1 và bà: Nguyễn Thị X; vợ: Hà Thị D; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2004.
Tiền án: không.
Tiền sự: 01. Ngày 18/6/2021 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 14/2021/QĐ-TA với thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng. Ngày 28/4/2023 Nguyễn Văn T chấp hành xong quyết định.
Về nhân thân: Ngày 12/02/2010 bị Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 21/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000đ về hành vi đánh bạc, đến ngày 22/02/2010 chấp hành xong; ngày 20/11/2019 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội trộm cắp tài sản tại Bản án số 24/2019/HS-ST. Ngày 20/11/2021 chấp hành xong, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 29/7/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
1
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị T2, sinh năm 1986; trú tại: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Hồi 18 giờ 45 phút ngày 29/7/2024, tại khu vực thôn C, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang Nguyễn Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Nguyễn Văn T 01 gói nhỏ nilon trong suốt, tiếp theo là gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, đã niêm phong số vật chứng nói trên trong phong bì niêm phong ký hiệu "T"; tạm giữ 01 xe mô tô BKS 20C1 - 177.60 cùng chìa khoá xe.
Ngày 02/8/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B đã chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy từ năm 2017, nên khoảng 18 giờ 00 phút ngày 29/7/2024, T đi xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đen, biển kiểm soát 20C1-177.60 từ nhà đến khu vực thôn N, xã N, thành phố B tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông lạ mặt (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu), T hỏi người đàn ông lạ mặt có biết chỗ nào bán ma tuý không, người đàn ông lạ mặt nói là có biết, T liền đưa cho người đàn ông lạ mặt 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), người đàn ông lạ mặt cầm tiền và điều khiển xe mô tô (do trời tối nên T không nhìn rõ nhãn hiệu xe và biển kiểm soát) đi đâu T không biết. Khoảng 10 phút sau, người đàn ông lạ mặt đó quay lại và đưa cho T 01 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, T điều khiển xe mô tô đi theo hướng ra thành phố B để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.
Ngày 30/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T. Qua khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành cân xác định khối lượng chất màu trắng dạng cục và bột có trong phong bì ký hiệu “T” có tổng khối lượng 0,301g (Không phẩy ba không một gam). Sau khi cân, toàn bộ số chất màu trắng dạng cục và bột trên được gói trong mảnh giấy trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1” gửi Cơ quan giám định.
Tại Kết luận giám định số 264/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số
2
57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu M1 có khối lượng là: 0,301g (Không phẩy ba không một gam).
Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nguyễn Văn T đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 75/CT-VKSTPBK, ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
α)...
c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
.....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tại phiên tòa:
*Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 15 đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/7/2024.
Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu T168 có đóng dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B; 01 phong bì niêm phong ký hiệu M2, bên trong chứa túi nilon, giấy gói và phong bì niêm phong ban đầu.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
* Bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và mức
3
hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, bị cáo không có ý kiến gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị T2 có ý kiến: Ngày 29/7/2024, Nguyễn Văn T là anh trai chồng của bà có hỏi mượn của bà chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đen, BKS 20C1- 177.60 để đi có việc. Bà hoàn toàn không biết việc bị cáo T sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc tàng trữ trái phép chất ma túy. Hiện nay bà đã được Cơ quan CSĐT Công an thành phố B trả lại chiếc xe này do vậy bà không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở xác định:
Hồi 18 giờ 45 phút ngày 29/7/2024, tại khu vực thôn C, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,301g (Không phẩy ba không một gam) ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang.
Nguyễn Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật tuy nhiên do nghiện chất ma túy nên đã cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử lý theo pháp luật hình sự.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
4
Bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu: Năm 2010 bị Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000đ về hành vi đánh bạc; năm 2019 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2021 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc với thời hạn là 24 tháng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo trong một khoảng thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T168, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ tàng trữ trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn T”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, chứa chất ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt sau phong bì có 05 (năm) chữ ký không đọc được, 01(một) dấu điểm chỉ màu đen, 01 (một) dòng chữ “Triệu Đức C”, 01 (một) dòng chữ “Vũ Văn T3”, 01 (một) dòng chữ ngón trỏ phải của Nguyễn Văn T và có 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, bên trong chứa túi nilon, giấy gói và phong bì niêm phong ban đầu, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đen, BKS 20C1- 177.60, đã qua sử dụng, có giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn Đ. Cơ quan điều tra đã làm rõ chiếc xe mô tô trên là của bà Đinh Thị T2 (em dâu của T) mua xe cũ của một người đàn ông tên C1, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể với giá 1.100.000₫ (Một triệu một trăm nghìn đồng) và qua tra cứu chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Khi T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy thì bà T2 không biết, do không liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma túy của T, nên ngày 25/10/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bà Đinh Thị T2 là đúng quy định của pháp luật.
5
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, điều tra, xử lý.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/7/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T168, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ tàng trữ trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn T”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt sau phong bì có 05 (năm) chữ ký không đọc được, 01(một) dấu điểm chỉ màu đen, 01 (một) dòng chữ “Triệu Đức C”, 01 (một) dòng chữ “Vũ Văn T3”, 01 (một) dòng chữ ngón trỏ phải của Nguyễn Văn T và có 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an thành phố B và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy
6
định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15(Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt Thu |
7
Bản án số 10/2024/HSST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 10/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Th phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
