Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày 19/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Giai Thưởng

2. Ông Nguyễn Viết Dũng.

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Danh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 29/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HS ngày 05/11/2024 đối với bị cáo:

Ngô Đắc T, sinh năm 1996.

Nơi cư trú: Xóm C, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Đắc X, sinh năm 1966 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1968; vợ, con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 11/10/2024 bị Trưởng Công an thị xã T xử phạt hành chính bằng hình thức phạt Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Đinh Viết T1, sinh năm 2003 ( vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn M, xã L, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Ngô Đắc X, sinh năm 1966 (bố đẻ bị cáo) Có mặt tại phiên tòa.
  2. Địa chỉ: Xóm C, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh;

  3. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990 (vắng mặt);
  4. Địa chỉ: Xóm H, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh;

  5. Ông Ngô Văn H, sinh năm 1964 (vắng mặt);
  6. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Đắc T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, không có việc làm ổn định. Giữa T và Đỗ Văn H1, sinh năm 1995 có HKTT: Tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang có mối quan hệ quen biết nhau. Ngày 26/6/2024, H1 sử dụng mạng xã hội Messeger có tên “Đạt N1” liên hệ đến tài khoản của T có tên “Trắng Xóa (Tuấn B)” bảo với T là H1 đến thị xã T chơi sau đó bị cáo và H1 gặp nhau và đi chơi cùng nhau. Khoảng 08 giờ ngày 27/6/2024, T rủ H1 đi đến nhà Nguyễn Văn T2 có HKTT tại xóm H, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh là chú họ của T chơi. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T và H1 hỏi mượn T2 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Taurus, BKS 99L5 – 8811 thì T2 đồng ý. Sau khi mượn được xe, T và H1 sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. T điều khiển xe chở H1 ngồi sau đi vào khu công nghiệp T số II và đi vào các khu nhà trọ xem có ai sơ hở trong việc quản lý tài sản thì trộm cắp. Khi đi ngang qua cánh đồng, T và H1 đã dừng xe lấy đất xoa nên biển số xe để tránh bị phát hiện. Sau đó, T và H1 đổi vị trí cho nhau, H1 điều khiển xe chở bị cáo ngồi sau. Khi đi qua khu nhà trọ của bà Đoàn Thị T3, sinh năm 1961 ở khu phố C, phường A, thị xã T thì phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 99H1 - 401.91 của anh Đinh Viết T1 để ở sân. H1 điều khiển xe chở T quay lại cổng khu trọ và đứng ngoài cảnh giới, còn T đi vào trong sân, tiến lại gần vị trí để chiếc xe thì thấy xung quanh vắng vẻ không có người qua lại, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện. T dắt lùi xe rồi quay đầu xe ra hướng cổng điều khiển xe đi. T có bảo H1 điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, BKS 99L5 - 8811 mang về trả cho T2, sau đó T đón H1 cùng nhau tìm cách tiêu thụ chiếc xe. Trên đường đi khi đi qua cầu K, T đã tháo biển kiểm soát của xe ném xuống sông. Khi đi đến đầu ngõ nhà ông Ngô Văn H, H1 đứng ở bên ngoài, còn T đi vào bán xe. T nói với ông H là xe của T bị rơi mất biển kiểm soát xe do cần tiền nên bán. Nếu ông H đồng ý mua thì 02 ngày sau sẽ mang giấy đăng ký xe đến đưa cho ông H và làm thủ tục sang tên cho ông H. Ông H sau khi kiểm tra xe, không nhất trí mua mà đồng ý cho T vay số tiền 4.000.000 đồng và yêu cầu để lại xe làm tin, khi nào T trả tiền thì ông H trả lại xe. Toàn bộ số tiền có được, T và H1 sử dụng tiêu xài chung hết. Buổi chiều ngày 27/6/2024, T và H1 quay lại nhà T2 chơi đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì T và H1 đi về, trước khi về thì H1 để áo cùng với mũ đã sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong túi quần áo của T, sau đó T và H1 không gặp nhau nhau nữa.

Ngày 16/7/2024, anh Đinh Viết T1 đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã T trình báo về việc bị mất chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 99H1 - 401.91 vào ngày 27/06/2024. Anh T1 giao nộp 01 USB bên trong chứa các đoạn video do camera ghi lại liên quan đến vụ án .

Ngày 16/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã T triệu tập Ngô Đắc T làm việc. T đã xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra:

  • 01 điện thoại di động kiểu máy Note 11 pro+, bị vỡ mặt kính lưng phía sau;
  • 01 áo sơ mi dài tay màu trắng có sọc kẻ đen, 01 quần vải màu đen T sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
  • 01 áo sơ mi dài tay màu trắng có sọc kẻ đen, 01 mũ lưỡi trai màu đen của H1 sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Cùng ngày 16/7/2024, ông Ngô Văn H tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, không gắn biển kiểm soát. Ông Nguyễn Đức C tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, BKS 99H1-8811 ngày 27/6/2024.

Ngày 17/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã T đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 1851 gửi hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T xác định trị giá của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 99H1 - 401.91, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 27/6/2024.

Tại kết luận định giá tài sản số 30 ngày 17/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 99H1 - 401.91 tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 27/6/2024 có trị giá là 12.000.000 đồng

Với nội dung trên, Cáo trạng số 133/CT- VKS-TT ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Ngô Đắc T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T đã khai nhận:

Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên vào ngày 27/6/2024, bị cáo và H1 có rủ nhau đi trộm cắp tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 99H1 - 401.91 của anh Đinh Viết T1 để ở sân khu nhà trọ. Sau khi trộm cắp được chiếc xe, bị cáo và H1 đã rủ nhau đi tiêu thụ và cầm cố cho ông Ngô Văn H để vay 4.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền có được, bị cáo và H1 đã chi tiêu chung hết. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Đắc X trình bày ông là bố đẻ của T, sau khi được cơ quan Công an thông báo T có hành vi trộm cắp tài sản thì ông đã được T tác động nhờ bồi thường cho ông H số tiền 4000.000 đồng thì ông đã gặp ông H và bồi thường cho ông H số tiền trên thay cho T, nay ông không yêu cầu T phải hoàn trả ông số tiền này vì T là con trai ông, ông cho biết T là đối tượng sử dụng ma tuý, gia đình ông đã báo Công an xã để có biện pháp đưa T đi cai nghiện, nay T có hành vi vi phạm pháp luật, ông đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 133/CT- VKS-TT ngày 28/10/2024. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Ngô Đắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
  3. Xử phạt: Bị cáo Ngô Đắc T từ 08 tháng tù đến 11 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2024. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết
  5. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  6. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động kiểm máy Note pro+ có số sê ri: 08151205G2358W15-130225 điện thoại bị vỡ kính mặt lưng phía sau;

    Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay màu trắng có kẻ sọc đen (trắng to hơn đen); 01quần vải màu đen; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng có kẻ sọc đen (Trắng và đen bằng nhau), 01 mũ lưỡi trai màu đen;

    Sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tham gia tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Kiểm sát viên, Điều tra viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Xem xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, tại sân khu nhà trọ của bà Đoàn Thị T3, sinh năm 1961 ở khu phố C, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Ngô Đắc T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 99H1 - 401.91 của anh Đinh Viết T1 trị giá 12.000.000 đồng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử, thấy:

Về nhân thân: Ngày 11/10/2024 bị cáo bị Trưởng Công an thị xã T xử phạt hành chính bằng hình thức phạt Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Do hành vi xử phạt hành chính bị xử lý sau ngày thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo không bị coi là có tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, tác động gia đình bồi thường số tiền 4.000.000 đồng cho ông H nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng song về nhân thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý đã bị Công an xã M lập hồ sơ quản lý đồng thời cũng đã bị Trưởng Công an thị xã T xử phạt hành chính Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, vì vậy đối với bị cáo xét thấy cần phải có mức hình phạt cách ly bị cáo với đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Đinh Viết T1 đã được nhận lại tài sản và bố bị cáo là ông Ngô Đắc X đã đứng ra hoàn trả ông Ngô Văn H số tiền 4000.000 đồng, ông H đã nhận đủ số tiền trên. Anh T1 và ông H không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về phía ông Xuân bố đẻ bị cáo cũng không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 4000.000 đồng ông đã bỏ ra để bồi thường thay bị cáo. Vì vậy về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra có thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại di động kiểu máy Note pro+ có số sê ri: 08151205G2358W15_130225 điện thoại bị vỡ kính mặt lưng phía sau. Xét thấy chiếc điện thoại bị cáo có dùng nhắn H1 xuống chơi chứ không sử dụng liên lạc rủ H1 đi trộm cắp tài sản nên cần trả lại bị cáo; Đối với 01 áo sơ mi dài tay màu trắng có kẻ sọc đen (trắng to hơn đen); 01quần vải màu đen; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng có kẻ sọc đen (Trắng và đen bằng nhau), 01 mũ lưỡi trai màu đen đều là những trang phục bị cáo đã sử dụng khi đi trộm cắp tài sản, giá trị nhỏ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha T, BKS 99H1 – 8811 tra cứu xác định tên đăng ký xe chủ sở hữu là anh Vũ Văn T4, sinh năm 1989 trú tại khu P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Anh T4 bán chiếc xe trên cho ông Nguyễn Đức C vào năm 2016. Anh Nguyễn Văn T2 là con trai của ông C đã cho bị cáo mượn xe mô tô trên để sử dụng. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản, anh T2 không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T2 chiếc xe này và không có đề nghị gì.

Đối với Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 99H1 - 401.91. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Đinh Viết T1 nên ngày 15/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã T đã trả lại chiếc xe trên cho anh T1 là phù hợp.

Đối với 01 biển kiểm soát 99H1 - 401.91 đến nay không thu hồi được, anh T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Trong vụ án này, Hội đồng xét xử thấy một số vấn đề có liên quan như sau:

Đối với ông Nguyễn Đức C và Nguyễn Đức T5 không biết việc T mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, BKS 99H1 – 8811 làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã T không xem xét xử lý là phù hợp.

Đối với Ngô Văn H không biết chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, T mang đến vay tiền và để lại làm tin là tài sản T trộm cắp được mà có nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã T không xem xét xử lý là phù hợp.

Đối với Đỗ Văn H1 theo lời khai của T là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp cùng T. Ngoài lời khai của T thì không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh Hoài thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô cùng T. Cơ quan CSĐT Công an thị xã T đã nhiều lần triệu tập nhưng H1 không có mặt tại địa phương. Vì vậy, chưa đủ căn cứ để xử lý nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã T đã tách hành vi của H1 ra để tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Ngô Đắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
  3. Xử phạt: Ngô Đắc T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 16/7/2024.

    Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (16/7/2024) để đảm bảo việc thi hành án.

  4. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  5. Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động kiểm máy Note pro+ có số sê ri: 08151205G2358W15_130225 điện thoại bị vỡ kính mặt lưng phía sau song tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

    Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay màu trắng có kẻ sọc đen (trắng to hơn đen); 01quần vải màu đen; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng có kẻ sọc đen (Trắng và đen bằng nhau), 01 mũ lưỡi trai màu đen;

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành ngày 18/11/2024).

  6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
  7. Bị cáo Ngô Đắc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
  9. Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thị xã Thuận Thành;
  • - CQĐT Công an thị xã Thuận Thành;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS thị xã Thuận Thành;
  • - Những NTGTT (bị cáo, bị hại);
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Đắc T bị Viện kiểm sát thị xã Thuận Thành truy tố tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger