Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày 18-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lò Văn Chiên;
  2. Ông Ngô Văn Thế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS, ngày 17/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS, ngày 05/11/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lừu A D, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 25/8/1970, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản Sểnh Sảng B, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Lừu A S, đã chết; mẹ đẻ: Giàng Thị S1, sinh năm 1931; vợ: Sùng Thị M, sinh năm 1972; bị cáo có 06 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/7/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ủy ban nhân dân xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vương Biên T, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Chang Dì Q, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 30 phút, ngày 19/3/2024, tổ công tác Hạt Kiểm lâm huyện P, tỉnh Lai Châu đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Lừu A D khi phát hiện Lừu A D đang thu dọn thực bì đã bị đốt cháy tại khu vực rừng thuộc bản Sểnh Sảng B, xã D, huyện P, ghi nhận diện tích 7.620m² rừng quy hoạch sản xuất hỗn giao TN-G tự nhiên núi đất đã bị chặt phá, một phần diện tích bị phá đã bị đốt cháy, xử lý thực bì. Quá trình điều tra, Lừu A D khai nhận: Lừu A D và gia đình sinh sống bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi. Do muốn có đất trồng trọt, Lừu A nảy sinh ý định lên khu vực rừng gần với đám nương của gia đình để chặt, phát cây lấy đất làm nương. Tháng 12/2023, D không xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà tự ý mang theo máy cưa, búa, dao phát, một mình đi lên khu rừng chặt hạ các cây gỗ, tre, nứa rừng sản xuất tại lô 8g và lô 4, khoảnh A, tiểu khu B, thuộc địa phận bản Sểnh Sảng B, xã D, do Ủy ban nhân dân xã D quản lý. Trong khoảng 01 tháng, D đã chặt hạ toàn bộ số cây gỗ, tre, nứa tại khu vực này, rồi chờ các cây khô để lấy đất làm nương. Đầu tháng 03/2024, D dùng máy cưa, búa, dao cắt và chẻ nhỏ các đoạn gỗ, tre, nứa, xếp thành đống để làm củi. Đến ngày 19/3/2024, D tiếp tục lên khu rừng đã chặt phá để gom cỏ khô lại, chuẩn bị đốt để làm nương thì bị lực lượng Kiểm lâm huyện P phát hiện, lập biên bản. Qua kết quả giám định của Chi cục Kiểm lâm tỉnh L đã xác định tổng diện tích rừng Lừu A gây thiệt hại thuộc lô 8g và lô 4; khoảnh 12; tiểu khu B, thuộc địa phận bản Sểnh Sảng B, xã D, huyện P là: 7.589 m².

Vật chứng đã thu giữ: 01 chiếc búa chặt; 01 con dao phát; 01 chiếc máy cưa nhãn hiệu Husqvarna 360; 01 chiếc bật lửa ga màu xanh. Lừ A D khai nhận đây đều là các vật dụng D đã dùng để chặt, phá rừng và để chuẩn bị đốt phần cây, cỏ khô tại khu vực rừng đã bị phá để làm nương.

Tại bản kết luận giám định tư pháp số: 02-2024/KL/GĐTT, ngày 22/7/2024, của Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lai Châu, kết luận: Tổng diện tích rừng thiệt hại thuộc lô 8g và lô 4; khoảnh 12; tiểu khu B, thuộc địa phận bản Sểnh Sảng B, xã D, huyện P là: 7.589 m². Trong đó: Lô 8g, khoảnh 12, tiểu khu B, diện tích rừng bị thiệt hại là: 4.187 m²; Lô D, khoảnh A, tiểu khu B, diện tích rừng bị thiệt hại là 3.402 m². Diện tích rừng bị thiệt hại thuộc quy hoạch rừng sản xuất.

Tại bản Kết luận định giá số: 15/KL-HĐĐGTS, ngày 06/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản huyện P, kết luận: Giá trị thiệt hại của 7.589 m², mức độ thiệt hại là 100%, là loại rừng quy hoạch sản xuất như sau: 4.187m² là rừng quy hoạch sản xuất, rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh chưa có trữ lượng, có giá trị thiệt hại tại thời điểm tháng 12/2023 là: 13.794.000 đồng; 3.402m² là rừng quy hoạch sản xuất, rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo, có giá trị thiệt hại tại thời điểm tháng 12/2023 là: 56.802.000 đồng. Tổng hai loại rừng nêu trên có giá trị bị thiệt hại tại thời điểm tháng 12/2023 là: 70.596.000 đồng.

Cơ quan điều tra lấy ngẫu nhiên 03 thân cây bị Lừu A D huỷ hoại gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo trồng lại các cây bị huỷ hoại, bị cáo đã thực hiện xong. Ngoài ra, bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 103/CT-VKS, ngày 16 tháng 10 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lừu A D về tội: “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lừu A D phạm tội: “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L A Dê từ 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 4 Điều 243 của Bộ luật Hình sự. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 chiếc búa chặt; 01 con dao phát; 01 chiếc bật lửa ga màu xanh. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc máy cưa nhãn hiệu Husqvarna 360. Về trách nhiệm dân sự: Hiện tại, bị cáo đã trồng lại toàn bộ phần diện tích rừng bị hủy hoại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập. Về án phí, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng. Bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện bị hại trình bày lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu gì thêm. Về hình phạt đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện:

cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến ngày 19/3/2024, Lừu A D đã thực hiện hành vi dùng máy cưa, búa, dao phát, bật lửa, chặt hạ các cây gỗ, tre, nứa, đốt, phá trái phép 7.589m² rừng sản xuất, tại khu vực lô 8g và lô D, khoảnh 12, tiểu khu B, thuộc địa phận bản Sểnh Sảng B, xã D, huyện P. Mục đích Lừu A D phá rừng để lấy đất trồng trọt.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng, gây mất trật tự, trị an xã hội trên địa bàn. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đã tự nguyện trồng lại toàn bộ phần diện tích rừng bị chặt phá để khắc phục hậu quả. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần hạn chế. Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật, mục đích thực hiện hành vi phạm tội là để lấy đất canh tác nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhưng cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để giám sát, giáo dục bị cáo. Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 4 Điều 243 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý: Các vật chứng: 01 chiếc búa chặt, 01 con dao phát, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh, đều là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc máy cưa nhãn hiệu Husqvarna 360, do bị cáo đã sử dụng chiếc máy cưa này làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo trồng lại toàn bộ diện tích rừng đã bị hủy hoại, bị cáo đã thực hiện xong. Tại phiên tòa, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên bố:

1. Bị cáo Lừu A D phạm tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lừu A D: 01 (Một) năm, 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện P, tỉnh Lai Châu nhận được quyết định thi hành án.

Không khấu trừ thu nhập của bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 4 Điều 243 của Bộ luật Hình sự.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã D trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo thực hiện nghĩa vụ của người chấp hành án theo quy định tại Điều 99 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc búa chặt, 01 con dao phát, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh.

Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc máy cưa nhãn hiệu Husqvarna 360.

(Toàn bộ vật chứng đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được miêu tả cụ thể trong biên bản giao nhận vật chứng được lập hồi 16 giờ 00 phút, ngày 17/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

4. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hủy hoại rừng (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo phá rừng làm nương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger