|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày 12 tháng 11 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Minh Quân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Tổ, ông Nguyễn Đức Việt
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Hà Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 10 tháng 3 năm 1988 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Hà Văn T (đã chết) và bà Lò Thị X, sinh năm 1953. Bị cáo có vợ là Lò Thị H1 (ly hôn năm 2010), Hà Thị T1 (ly hôn năm 2017). Bị cáo có 04 con (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2015).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị X, sinh năm 1953. Địa chỉ: Bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 27/7/2024 Hà Văn H điều khiển xe mô tô hiệu HONDA WAVE A biển kiểm soát 26AD-011.02 đi từ nhà thuộc bản B, xã C, huyện M đến nhà em gái là Hà Thị X1, sinh năm 1991 trú tại bản Há Sét, xã N, huyện M chơi. Đến 14 giờ cùng ngày H điều khiển xe mô tô đi đến bản C, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Trên đường đi đến bản C, xã M, huyện S, H gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa Heroine và các viên H2 phiến với giá 150.000VNĐ. Mua được H3 và Hồng phiến, H cầm ở tay trái và điều khiển xe mô tô đi về. Đến khu vực bản Ớ, xã N, huyện M, H bị tổ công tác Công an xã N, huyện M phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ: 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng bên trong chứa chất bột nén màu trắng nghi là H3 và các viên nén màu hồng một mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY” nghi là ma túy tổng hợp (Hồng phiến); 01 điện thoại di động hiệu VIVO V2043 tại túi quần phía trước bên phải đang mặc; 01 ví da màu nâu hiệu CARTELO bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Hà Văn H, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy hiệu HONDA WEVE A biển kiểm soát 26AD-001.02; 01 xe mô tô hiệu HONDA WEVE A biển kiểm soát 26AD-001.02.
Ngày 27/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp với Phòng K Công an tỉnh S thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh gói vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Hà Văn H. Kết quả: chất bột nén màu trắng có khối lượng 0,06 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M1 trưng cầu giám định; 07 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,76 gam, trích rút 0,21 gam (02 viên) ký hiệu M2 trưng cầu giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1532/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:
“Mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (H) có tên khoa học là D, quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là M1=0,06 gam
Mấu ký hiệu M2 là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,06 gam; Loại Heroine và 0,76 gam loại Mathamphetamine.
Tại phiên toà, bị cáo Hà Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Bản cáo trạng số: 108/CT-VKS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Hà Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo và đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015; Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ.
Xử phạt Hà Văn H từ 18 tháng đến 22 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, Khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư do Công an huyện M phát hành bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu, 0,55 gam Methamphetamine, 01 phong bì thư do Công an huyện M phát hành.
Trả lại cho Hà Văn H 01 ví da màu nâu hiệu CARTELO; 01 căn cước công dân mang tên Hà Văn H,
Trả lại cho gia đình Hà Văn H (đại diện là bà Lò Thị X) 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE A biển kiểm soát 26AD-011.02, số khung RLHJA3936PY154367; Số máy JA70E-0227008; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 26003309.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn. Do đó áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng. Đề nghị Tòa án trả lại tài sản cho gia đình bà X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Cơ quan điều tra Công an huyện M, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi của bị cáo thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 00 phút ngày 27/7/2024; biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; phù hợp với kết luận giám định số 1532/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K công an tỉnh S; phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận không có gì mâu thuẫn, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.
Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 27/7/2024 tại khu vực bản Ớ, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La, Hà Văn H bị tổ công tác Công an xã N, huyện M bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,06 gam Heroine và 0,76 gam Methamphetamine (tổng khối lượng ma túy là 0,82 gam), mục đích để sử dụng. Đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
[3] Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, nhận thức được việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh xác định bị cáo sống chung với mẹ già, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với toàn bộ vật chứng đã thu giữ của bị cáo, áp dụng điểm c Khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự giải quyết như sau:
Toàn bộ số ma túy thu giữ khi bắt quả tang bị cáo đã được trích rút làm mẫu giám định. Vật chứng còn lại gồm 0,55 gam Methamphetamine là chất độc dược Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 ví da màu nâu hiệu CARTELO; 01 căn cước công dân mang tên Hà Văn H; 01 điện thoại di động hiệu VIVO V2043 là tài sản, giấy tờ nhân thân của Hà Văn H cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE A biển kiểm soát 26 AD-011.02; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 26003309, biển kiểm soát 26AD-011.02 thu giữ của bị cáo, qua xác minh là tài sản chung của gia đình bị cáo và cũng là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình. Việc bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy bà X không biết, tại phiên tòa bà X có ý kiến xin lại chiếc xe làm phương tiện đi lại, do vậy cần trả lại cho gia đình bị cáo (đại diện là bà Lò Thị X, mẹ đẻ bị cáo) để quản lý sử dụng.
[7] Về nguồn gốc chất ma tuý: Bị cáo khai mua của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực đường thuộc bản C, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Việc trao đổi mua bán không có ai biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M không có tài liệu, chứng cứ khác để điều tra mở rộng vụ án. Buộc Hà Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 0,06 gam Heroine và 0,76 gam Methamphetamine thu giữ trong vụ án.
[8] Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Hà Văn H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/7/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 0,55 gam Methamphetamine; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu, 01 phong bì niêm phong lần đầu (được niêm phong theo quy định).
Trả lại cho Hà Văn H: 01 ví da màu nâu hiệu CARTELO; 01 căn cước công dân mang tên Hà Văn H; 01 điện thoại di động hiệu VIVO V2043 (được niêm phong theo quy định).
Trả lại cho gia đình Hà Văn H (đại diện là bà Lò Thị X) 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE A biển kiểm soát 26AD-011.02, số khung RLHJA3936PY154367; Số máy JA70E-0227008; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 26003309.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Minh Quân |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại phòng nghị án.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Minh Q
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn T3, ông Nguyễn Đức V
Tiến hành nghị án vụ án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Hà Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 10 tháng 3 năm 1988. Tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
2. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
3. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
4. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
5. Tội danh, Điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Hà Văn H tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/7/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
6. Về vật chứng, tài sản: Áp dụng điểm c Khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 0,55 gam Methamphetamine; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu (được niêm phong theo quy định).
Trả lại cho Hà Văn H: 01 ví da màu nâu hiệu CARTELO; 01 căn cước công dân mang tên Hà Văn H; 01 điện thoại di động hiệu VIVO V2043 (được niêm phong theo quy định).
Trả lại cho gia đình Hà Văn H (đại diện là bà Lò Thị X) 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE A biển kiểm soát 26AD-011.02, số khung RLHJA3936PY154367; Số máy JA70E-0227008; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 26003309.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
7. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
8. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày để bảo đảm công tác thi hành án.
Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút ngày 12 tháng 11 năm 2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 10/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
