Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/DS-PT

Ngày: 30-10-2024

“Tranh chấp đòi bồi thường thiệt

hại theo Hợp đồng bảo hiểm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hồng Ánh

Các thẩm phán: ông Tạ Duy Ước.

ông Bùi Đức Thanh.

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Nguyễn Thị Châu Loan - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 10, 30 tháng 9 và ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử số 4, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại phúc thẩm thụ lý số: 08/2024/TLPT-KDTM ngày 02/8/2024 về “V/v Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại theo Hợp đồng bảo hiểm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-KDTM ngày 14/12/2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh bị Công ty Cổ phần Đ là bị đơn kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 106/2024/QĐ-PT ngày 16/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 111/2024/QĐ-PT ngày 10/9/2024, và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 11/2024/QĐPT-KDTM ngày 30/9/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Tổng Công ty B. Địa chỉ trụ sở: số G, L, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Hồng T - Chức vụ: Tổng Giám đốc, vắng mặt

    Người đại diện theo ủy quyền: bà Đỗ Phương A, chức vụ: Phó Giám đốc Ban pháp chế và Kiểm tra nội bộ; ông Trần Mạnh H, chức vụ: Chuyên viên Ban giám định bồi thường hàng hải; bà Đỗ Minh A1, chức vụ: Chuyên viên Ban kiểm soát tuân thủ - pháp chế (Theo giấy ủy quyền số 5402/UQ-BHBV ngày 27/9/2024 của Tổng Giám đốc – Tông công ty B). Có mặt ông Trần Mạnh H. Bà Đỗ Phương A có mặt tại phiên tòa ngày 30/9/2024, vắng mặt tại phiên tòa ngày 30/10/2024. Bà Đỗ Minh A1 vắng mặt tại phiên tòa ngày 30/9/2024, có mặt tại phiên tòa ngày 30/10/2024.

  2. Bị đơn: Công ty cổ phần Đ. Địa chỉ trụ sở: khu A, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Người đại diện theo pháp luật: bà Lê Thị T1 – Chức vụ: Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: bà Trương Thanh T2. Địa chỉ: số B phố H, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • Công ty TNHH T6. Địa chỉ trụ sở: 222/1 L, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật ông Phùng Cẩm H1, chức vụ: Giám đốc, vắng mặt.

    • Công ty TNHH Đ1. Địa chỉ: T, số A TĐC Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Đại diện theo pháp luật ông Đỗ Văn T3, chức vụ: Giám đốc, vắng mặt.

    • Công ty TNHH MTV C1. Địa chỉ: số B, tổ I, khu H, Phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Đại diện theo pháp luật ông Trần Đức T4, sinh năm 1982. Địa chỉ: tổ D, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

  4. Người kháng cáo: Công ty Cổ phần Đ là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn Tổng Công ty B (bà Đỗ Phương A đại diện theo ủy quyền) trình bày:

Ngày 18/03/2017, Công ty Đ và Công ty TNHH T6 ký hợp đồng vận chuyển số 18.03/HĐVC/2017/NP-KQ về việc vận chuyển 20.000 tấn tôn cuộn bằng 05 tàu từ cảng B và cảng L, Hồ Chí M đến cảng H trong thời gian dự kiến từ ngày 20 - 26.03/2017.

Ngày 25/03/2017, Công ty Đ và Công ty TNHH Đ1 đã ký kết hợp đồng vận chuyển số 25.03/HĐVC/2017/NP-NC về việc thuê nguyên tàu Minh Dương 8888 của Công ty TNHH Đ1 để vận chuyển một phần trong số 20.000 tấn tôn cuộn của Công ty TNHH T6.

Ngày 27- 29/03/2017, tàu Minh Dương 8888 đã nhận 137 cuộn/2.786.635 tấn tôn cuộn cán nóng của Công ty TNHH T6 để vận chuyển đi trả hàng tại cảng H theo Phiếu vận chuyển do Công ty Đ phát hành. Ngày 30/3/2017, tàu Minh D hoàn thành mọi thủ tục để rời cảng đi trả hàng tại Hải Phòng.

Ngày 31/03/2017, khi tàu hành trình đi cảng H qua khu vực vùng biển C, tỉnh Khánh Hòa, tàu Minh Dương 8888 gặp sự cố nước tràn vào tàu dẫn đến tàu và toàn bộ hàng hóa đã nhận tại cảng B và cảng L của Công ty TNHH T6 bị chìm (Căn cứ theo kháng nghị hàng hải do thuyền trưởng tàu Minh Dương 8888 phát hành).

Căn cứ theo Điều 04 Hợp đồng vận chuyển số 18.03/HĐVC/2017/NP-KQ và kết luận tại báo cáo điều tra của Cảng vụ hàng hải N, tổn thất hàng hóa xảy ra trong quá trình vận chuyển do lỗi của Công ty Đ. Vì vậy, Công ty Đ phải bồi thường thiệt hại đối với tổn thất hàng hóa nêu trên cho Công ty TNHH T6.

Lô hàng 137 cuộn/2.786.635 tấn vận chuyển trên tàu Minh Dương 8888 nêu trên đã được Công ty TNHH T6 mua bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa theo Đơn bảo hiểm số 719846 ngày 20/03/2017 và sửa đổi bổ sung số 141876 ngày 30/03/2017 tại Công ty Bảo Việt thành phố B – chi nhánh của Tổng Công ty B. Căn cứ trên đơn bảo hiểm và quy tắc bảo hiểm của Công ty B, Bảo V đã bồi thường số tiền 30.603.259.750 đồng là số tiền tương đương với giá trị tổn thất của lô hàng được bảo hiểm trong sự cố chìm tàu Minh Dương 8888.

Căn cứ Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sau khi nhận được số tiền bồi thường theo đơn bảo hiểm, chủ sở hữu hàng hóa – Công ty TNHH T6 đã có giấy biên nhận và thế quyền với nội dung chuyển quyền và thế quyền cho Bảo V tất cả các quyền hạn của chủ sở hữu hàng hóa đối với lô hàng được bảo hiểm nêu trên. Tổng Công ty B với tư cách được thế quyền bởi Công ty T6, có quyền yêu cầu Công ty Đ bồi hoàn lại số tiền mà Bảo hiểm B đã chi trả bồi thường cho Công ty T6 trong tổn thất ngày 31/03/2017.

Tổng Công ty B đã gửi đơn khiếu nại đến Công ty Đ, trong đó có nội dung thông báo cụ thể về việc Bảo hiểm Bảo V được thế quyền từ Công ty TNHH T6 nhưng không nhận được phản hồi về việc giải quyết khiếu nại yêu cầu bồi thường thiệt hại hàng hóa của Bảo hiểm B.

Tổng Công ty B đã bồi thường số tiền 30.603.259.750 đồng là số tiền tương đương với giá trị tổn thất của lô hàng được bảo hiểm trong sự cố chìm tàu Minh Dương 8888 cho Công ty TNHH T6 và nhận thế quyền của Công ty TNHH T6.

Xác định thiệt hại và giá trị yêu cầu bồi thường:

Theo Báo cáo giám định cuối cùng ngày 25/09/2017 được phát hành bởi Công ty TNHH G, xác định toàn bộ lô hàng 137 cuộn/ 2.786.635 tấn hàng thép cuộn cán nóng đã bị chìm đắm cùng tàu Minh Dương 8888 sau sự cố.

Mức độ tổn thất hàng hóa:

Căn cứ vào Ủy nhiệm chi được phát hành bởi ngân hàng E ngày 07/09/2017, xác nhận Công ty TNHH T7 là đơn vị thắng thầu mua thanh lý toàn bộ lô hàng thép cuộn cán nóng nói trên đã chuyển cho Công ty TNHH T6 số tiền 5.200.000.000 VNĐ cho Hợp đồng mua bán số 13/HĐMB/KL17.

Căn cứ vào giấy sửa đổi bổ sung Đơn bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam số 141876 ngày 30/03/2017 của Công ty Bảo Việt thành phố B cấp cho Công ty T6, xác định tổng giá trị tổn thất của lô hàng như sau: 35.808.259.750 VNĐ – 5.200.000.000 đồng = 30.608.259.750 đồng.

Từ các cơ sở trên, Tổng Công ty B yêu cầu Công ty Cổ phần Đ phải bồi thường cho Tổng Công ty B số tiền 30.603.259.750 đồng (ba mươi tỷ sáu trăm linh ba triệu hai trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi đồng).

- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ: tại bản tự khai và hòa giải (người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trương Thanh T2) trình bày:

Ngày 18/3/2017 Công ty Đ ký Hợp đồng số 18.3/HĐVC/2017/NP-KQ vận chuyển 20.000 tấn tôn cuộn từ cảng B và cảng L, thành phố Hồ Chí Minh đến cảng H với Công ty T6. Ngày 20/3/2017, Công ty T6 đã mua bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa cho lô hàng trên theo Đơn bảo hiểm số 719846 ngày 20/3/2017 và sửa đổi bổ sung số 141876 ngày 30/3/2017 tại Công ty Bảo Việt thành phố B- chi nhánh của Tổng Công ty B.

Ngày 25/03/2017, Công ty Đ và Công ty TNHH Đ1 đã ký Hợp đồng vận chuyển số 25.03/HĐVC/2017/NP-NC về việc thuê nguyên tàu Minh Dương 8888 của Công ty TNHH Đ1 để vận chuyển một phần trong số 20.000 tấn tôn cuộn của Công ty TNHH T6.

Ngày 27- 29/03/2017, tàu Minh Dương 8888 đã nhận 137 cuộn/2.786.635 tấn tôn cuộn cán nóng của Công ty TNHH T6 để vận chuyển đi trả hàng tại cảng H theo Phiếu vận chuyển do Công ty Đ phát hành. Ngày 30/3/2017, tàu Minh D hoàn thành mọi thủ tục để rời cảng đi trả hàng tại Hải Phòng.

Ngày 31/03/2017, khi tàu hành trình đi cảng H qua khu vực vùng biển C, tỉnh Khánh Hòa, tàu Minh Dương 8888 gặp sự cố nước tràn vào tàu dẫn đến tàu và toàn bộ hàng hóa đã nhận tại cảng B và cảng L của Công ty TNHH T6 bị chìm. Theo thông báo sự cố ngày 01/4/2017 của Công ty Đ1 thì nguyên nhân dẫn đến chìm tàu là do sự cố nước tràn vào buồng máy.

Ngày 12/4/2014, thuyền trưởng tàu Minh Dương đã có đơn Kháng nghị hàng hải về sự cố, trong đó nêu rõ nguyên nhân: do nước vào quá nhanh và không thể phát hiện ra vị trí nước vào nên không thể cứu được con tàu.

Ngày 12/6/2017, Cảng vụ hàng hải N đã phát hành Báo cáo điều tra tai nạn hàng hải số 441/BV-CVHHNT về tai nạn nước vào buồng máy gây chìm tàu Minh Dương 8888 ngày 31/3/2017, trong đó ghi nhận toàn bộ hàng hóa đã chìm xuống biển cùng với tàu và kết luận nguyên nhân dẫn đến sự cố:

Có thể van và đường ống trong buồng máy của tàu Minh Dương 8888 bị hỏng hóc, sự cố mà không phát hiện kịp thời dẫn đến nước vào buồng máy từ hệ thống này làm chìm tàu. Một số mối nối trên vỏ tàu phía dưới đáy tàu tại khu vực buồng máy bị sự cố mà không thể phát hiện kịp thời, dẫn đến nước vào tàu làm chìm tàu. Triển khai công tác chống đắm chưa thực sự hiệu quả.

Căn cứ đơn bảo hiểm và các tài liệu về giám định tổn thất. Tổng Công ty B đã bồi thường số tiền 30.603.259.750 đồng cho Công ty T6. Sau khi nhận được số tiền bồi thường theo đơn bảo hiểm, Công ty T6 đã có Giấy biên nhận và thế quyền cho Tổng Công ty B với quyền hạn của chủ sở hữu hàng hóa đối với lô hàng được bảo hiểm. Nay, Tổng Công ty B khởi kiện Công ty Đ số tiền 30.603.259.750 đồng tương đương với giá trị thiệt hại hàng hóa của Công ty T6. Trong vụ việc này, Công ty Đ chỉ làm dịch vụ L. Công ty Đ đã thuê Công ty Đ1 vận chuyển lô hàng của Công ty T6. Tại Hợp đông thuê tàu vận chuyển hàng hóa số 25.03/HĐVc/2017/NP-NC, hai bên đã thỏa thuận tại Điều 1 về phương tiện vận chuyển là tàu Minh Dương 8888 thuộc sở hữu của Công ty C1 để vận tải lô hàng trên. Sự cố tổn thất không phải do Công ty Đ gây ra. Do vậy, Công ty Đ không có trách nhiệm bồi hoàn tiền bảo hiểm cho Tổng Công ty B. Công ty TNHH Đ1 và Công ty TNHH MTV C1 có trách nhiệm bồi hoàn tiền bồi thường bảo hiểm cho Tổng Công ty B.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH T6 có ý kiến trình bày:

ngày 18/3/2017, Công ty có thuê Công ty cổ phần Đ để vận chuyển lô hàng sắt thép từ Cảng S đi Hải Phòng theo Hợp đồng vận chuyển số 180.3/HĐVC/2017/NP-KQ. Phía Công ty Đ có gửi thông báo đưa tàu Minh Dương 8888 để vận chuyển lô hàng của chúng tôi đi Hải Phòng. Rạng sáng ngày 1/4/2017, Công ty chúng tôi nhận được thông báo tàu Minh Dương 8888 gặp nạn ở vùng biển N. Công ty C2 có thông báo cho Công ty Bảo Việt thành phố B (là Công ty B1 cho chúng tôi) và các bên liên quan nắm tình hình. Phía Công ty B đã hoàn thành bồi thường tổn thất lô hàng cho

chúng tôi rồi nên Công ty chúng tôi không còn yêu cầu quyền lợi hay tranh chấp gì liên quan đến tàu Minh Dương 8888 này nữa. Công ty T6 đã nhận tiền bồi thường của Tổng Công ty B và đã thế quyền cho Tổng Công ty B khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần Đ phải bồi thường cho Tổng Công ty B nên công ty T6 không có yêu cầu gì khác.

Tại biên bản xác minh tại Công an phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thể hiện: tại địa chỉ T số A Đ, Phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng không treo biển của Công ty Đ1 mà treo biển Công ty TNHH L1.

Tại công văn số 206/CV-TA ngày 29/09/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thể hiện: Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện nội dung việc ủy thác thu thập chứng cứ số 04/2022/QĐUT-KDTM ngày 05/08/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, thể hiện: địa chỉ trụ sở của Công ty TNHH C1 theo hồ sơ ủy thác, tại số B, tổ I, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh thì địa giới hành chính của phường C, thành phố C không có khu 8, trên địa bàn cũng không có công ty nào có biển hiệu là Công ty TNHH MTV C1.

Theo biên bản xác minh ngày 03/04/2023 tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện: công dân Phạm Hữu T5, sinh năm 1988 có bố là Phạm Hữu C, sinh năm 1964 và mẹ là bà Lê Thị O, sinh năm 1964, hiện không có hộ khẩu tại địa phương. Ngày 06/10/2021 đã chuyển khẩu đến B T, T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu Công ty Cổ phần Đ bồi hoàn cho Tổng Công ty B số tiền: 30.603.259.750 đ (ba mươi tỷ, sáu trăm linh ba triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).

Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần Đ có quan điểm: không chấp nhận nội dung khởi kiện của Tổng Công ty B. Đề nghị áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005, áp dụng Luật thương mại để tính thời hiệu khởi kiện.

Với nội dung trên, tại Bản án sơ thẩm số: 03/2023/KDTM-ST ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh đã tuyên:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1,2,3 Điều 4; khoản 2 Điều 365; Điều 530; Điều 531; Điều 534; khoản 1 Điều 541 Bộ luật Dân sự; Điều 71; Điều 118 Bộ luật Hàng hải 2005; điểm e khoản 1 Điều 17; khoản 1 Điều 49 Luật Kinh

doanh Bảo hiểm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty B.

Công ty cổ phần Đ phải trả cho Tổng Công ty B số tiền 30.603.259.750 đồng (ba mươi tỷ, sáu trăm linh ba triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).

Ngoài ra Bản án còn tuyên về lãi suất chậm trả trong trường hợp chậm thi hành án, về án phí, về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/12/2023, Công ty cổ phần Đ kháng cáo kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số: 03/2023/KDTM-ST ngày 14/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, đề nghị xét xử phúc thẩm: (1) sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (2) hoặc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. (3) hoặc hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi kiện, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo; các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:

Về tố tụng:

Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, hủy Bản án sơ thẩm số 03/2023/KDTM-ST ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

Kháng cáo của Công ty cổ phần Đ được thực hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo trong phạm vi bản án sơ thẩm, nên hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của Công ty cổ phần Đ:

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày quan điểm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong xác định thời hiệu khởi kiện, trong thụ lý đơn khởi kiện vì thời hiệu khởi kiện đã hết. Công ty cổ phần Đ không có lỗi trong việc hàng hóa bị mất mát, hư hỏng; vì vậy chưa có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường đối với Công ty cổ phần Đ.

Hội đồng xét xử xét thấy tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Tại Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa lập ngày 17/3/2017 giữa Công ty Bảo Việt thành phố B và Công ty T6 quy định: “Đối với các lô hàng có giá trị bảo hiểm từ 01 triệu Đôla Mỹ hoặc quy đổi tương đương sang Đ Việt Nam, Người bảo hiểm cam kết sẽ thông báo trước 02 ngày quyết định thuê tàu các thông tin sau: tên tàu và giấy tờ của con tàu nhận chở hàng để Người bảo hiểm kiểm tra xác nhận trước khi Người được bảo hiểm chấp nhận đồng ý thuê tàu này”. Tại Đơn bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa do Công ty Bảo Việt thành phố B phát hành ngày 20/3/2017 ghi: “Người được bảo hiểm cam kết sẽ thông báo trước cho người bảo hiểm 01 ngày làm việc các thông tin về tàu trước khi thuê tàu hay xếp hàng lên tàu đối với các chuyến hàng có giá trị bảo hiểm từ 1 triệu Đôla M1 trở lên hoặc quy đổi ra Việt Nam đồng với giá trị tương đương”. Tại Giấy sửa đổi bổ sung số 141876 do Công ty Bảo Việt thành phố B phát hành ngày 30/3/2017 ghi giá trị số tiền bảo hiểm là 35.808.259.750đ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, chưa thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh Công ty TNHH T6 thông báo cho Bảo hiểm B về tên tàu và giấy tờ của tàu Minh Dương 8888 trước thời điểm tàu Minh Dương 8888 vào cảng B thành phố Hồ Chí Minh để xếp hàng ngày 27/3/2017. Không có tài liệu chứng cứ chứng minh Bảo hiểm B đã kiểm tra, chấp nhận đồng ý với việc thuê tàu Minh Dương 8888. Không có tài liệu chứng cứ chứng minh Công ty TNHH T6 đã thanh toán phí bảo hiểm trước thời điểm tàu Minh D bị chìm đắm ngày 01/4/2017, hoặc trước thời điểm Công ty TNHH T6 nộp hồ sơ khiếu nại bảo hiểm. Vì vậy, chưa có căn cứ xác định hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập Hợp đồng ký kết giữa Công ty TNHH Đ1 với Công ty TNHH MTV C1 để xác định Công ty TNHH Đ1 thuê tàu Minh Dương 8888 của Công ty TNHH MTV C1 để vận chuyển hàng hóa hay là Công ty TNHH Đ1 thuê Công ty TNHH MTV C1 vận chuyển hàng hóa.

Điều 72 Bộ luật hàng hải năm 2005 quy định các bên liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển như sau:

“2. Người vận chuyển là người tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển với người thuê vận chuyển.

3. Người vận chuyển thực tế là người được người vận chuyển uỷ thác thực hiện toàn bộ hoặc một phần việc vận chuyển hàng hoá bằng đường biển”.

Sau khi chi trả số tiền 30.603.259.750đ cho khiếu nại của Công ty TNHH T6 về tổn thất của lô hàng theo đơn bảo hiểm số 719846 ngày 20/3/2017; ngày 07/10/2017 Bảo hiểm Bảo V đã nhận thế quyền từ Công ty TNHH T6. Ngày 07/12/2018, Tổng Công ty B đã gửi thư khiếu nại số 10200/BHBV-GĐBTHH về tổn thất hàng hóa vận chuyển trên tàu Minh Dương đến Công ty Cổ phần Đ, Công ty TNHH Đ1, Công ty TNHH C1 yêu cầu bồi thường số tiền 30.603.259.750đ cho Bảo V vào tài khoản số: 0011.066.888.006 tại Ngân hàng TMCP B, quận H, Hà Nội; nhưng không nhận được ý kiến phản hồi về việc giải quyết khiếu nại yêu cầu bồi thường thiệt hại hàng hóa của Tổng Công ty B. Ngày 29/3/2019, Tổng Công ty B đã khởi kiện Công ty Cổ phần Đ tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty Cổ phần Đ bồi thường thiệt hại cho Bảo hiểm B số tiền 30.603.259.750đ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa Công ty TNHH Đ1, Công ty TNHH C1 vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, chưa thu thu thập được tài liệu chứng cứ như đã nêu trên, nên chưa có cơ sở để xác định người vận chuyển thực tế 137 cuộn/2.786.635 tấn tôn cuộn cán nóng nêu trên là Công ty Cổ phần Đ; hay là Công ty TNHH Đ1; hay là Công ty TNHH C1.

Do việc thu thập tài liệu, chứng cứ chưa được Tòa án cấp sơ thẩm thu thập đầy đủ và tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung được; vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, cần hủy Bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-KDTM

ngày 14/12/2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Từ những phân tích và viện dẫn nêu trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần Đ.

[3]. Về án phí: kháng cáo của Công ty cổ phần Đ được chấp nhận một phần; vì vậy Công ty cổ phần Đ không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cổ phần Đ.

Tuyên xử:

Hủy Bản án sơ thẩm số: 03/2023/KDTM-ST ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Căn cứ khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Công ty cổ phần Đ không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sự phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Trả lại Công ty cổ phần Đ số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003825 ngày 18/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh.

  • - THADS TX Quảng Yên.

  • - TAND TX Quảng Yên.

  • - Các đương sự.

  • - Lưu HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/DS-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm

  • Số bản án: 10/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại theo Hợp đồng bảo hiểm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “V/v Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại theo Hợp đồng bảo hiểm”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger