Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày 29/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nam, bà Nguyễn Thị Phú.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Đinh Thị T, sinh năm 1993. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ. HKTT: Bản S, xã M, huyện P, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 07/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Đinh Văn K, sinh năm 1978. Họ và tên mẹ: Hà Thị T1, sinh năm 1973. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Họ và tên chồng: Hà Văn L, sinh năm 1985. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016.

- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Khu C, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Ông Nguyễn Kim S – Cán bộ phụ trách tin học Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

+ Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam – Công an tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Thị T làm công nhân thời vụ tại công ty G thuộc KCN Q, tỉnh Bắc Ninh từ tháng 3/2024. Trong thời gian làm đến tháng 7/2024 thông qua ứng dụng Zalo, T có quan hệ quen biết với Nguyễn Văn T2, sinh năm 1986, HKTT: Thôn M, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Trưa ngày 13/7/2024, T đang đi làm thì T2 nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho T đặt vấn đề bảo T bán dâm và nhờ T rủ thêm 01 người để đi bán dâm cùng, T2 và T thỏa thuận việc mua bán dâm với giá là 3.000.000 đồng/2 người, T đồng ý nhưng do đang đi làm nên T hẹn T2 đến tối sẽ trả lời. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T nhắn tin và gọi điện qua ứng dụng Zalo cho Hoàng Thị M, sinh năm 1992, HKTT: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn (bạn cùng làm công ty với T) rủ M cùng đi bán dâm cho T2 lấy số tiền 3.000.000 đồng/ 02 người thì M đồng ý. Sau đó, T nhắn tin cho T2 thì T2 hẹn T cùng M đến quán C ở tại khu M, phường P, thị xã Q gặp T2. Đến khoảng 21h00' cùng ngày, T đi taxi đến đón M tại phòng trọ thuộc Khu T, phường N, thành Phố B cùng đi đến quán C ở khu M, phường P thì gặp T2 và Nguyễn Văn N, sinh năm 1991, HKTT: Khu C, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đang ngồi uống nước nên M và T cùng ngồi uống nước và nói chuyện với T2 và N. Khi đang uống nước T2 hỏi M: T đã nói về việc đi bán dâm cho T2 và N chưa thì M không nói gì. Tại đây, T2 đưa cho T 3.000.000 đồng, T biết đây là tiền T2 trả để mua dâm của T và M nên cầm tiền rồi đưa cho M. Sau đó, T2, T, M và N thuê taxi đi đến nhà nghỉ B thuộc khu C, phường P, thị xã Q gặp chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1988, HKTT: Y, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (là quản lý nhà nghỉ) hỏi thuê phòng, được chị L1 bảo lên phòng 202 và 302 của nhà nghỉ. Lúc này, T và T2 lên phòng 302 còn N mà M vào phòng 202 để thực hiện hành vi mua bán dâm. Đến khoảng 22 giờ 50 phút ngày 13/7/2024 khi các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công an thị xã Q phối hợp với Công an phường P kiểm tra bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, Đinh Thị T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 158/CT-VKSQV ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Đinh Thị T về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại Khoản 1, Điều 328 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Môi giới mại dâm” là đúng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Đinh Thị T phạm tội “Môi giới mại dâm” và áp dụng Khoản 1, Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 BLTTHS; xử phạt: Đinh Thị T từ 08 - 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 – 20 tháng. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu huỷ 02 vỏ bao cao su, 02 bao cao su đã qua sử dụng.
  • Sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu Gold và số tiền 3.000.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được, lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Hồi 22 giờ 50 phút ngày 13/7/2024, tại phòng 202 nhà nghỉ B thuộc khu C, phường P, thị xã Q Đinh Thị T có hành vi môi giới để Hoàng Thị M bán dâm cho Nguyễn Văn N. Cũng tại thời điểm trên T có hành vi bán dâm cho Nguyễn Văn T2 tại phòng 302 của nhà nghỉ thì bị Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Công an phường P bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo Đinh Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Môi giới mại dâm", tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1, Điều 328 Bộ luật hình sự. Vì vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến trật tự công cộng, xâm phạm đến đạo đức xã hội, nếp sống văn minh và sức khoẻ con người. Mại dâm là một tệ nạn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm lan truyền các căn bệnh xã hội. Do vậy, Đảng và Nhà nước ta đã và đang vận động, tuyên truyền giáo dục nhân dân nhanh chóng đẩy lùi tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo thấy được tính chất nguy hiểm của sự việc nhưng chỉ vì hám lợi mà bị cáo đã làm trung gian để dụ dỗ, dẫn dắt Hoàng Thị M thực hiện hành vi bán dâm với Nguyễn Văn N, còn bị cáo bán dâm cho Nguyễn Văn T2 và trực tiếp nhận số tiền mua dâm của T2 và N. Chính vì vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện. Đề xuất về hình phạt đối với bị cáo như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, ngoài hình phạt chính cần phạt bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có tài sản tích luỹ và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo là phù hợp.

[6] Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 02 vỏ bao cao su; 02 bao cao su đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu Gold là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để liên lạc, môi giới mại dâm và số tiền 3.000.000 đồng là tiền bị cáo thu được từ việc bán dâm nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7] Liên quan trong vụ án này còn có:

  • - Đối với Nguyễn Văn T2 có hành vi mua dâm, sau khi lấy lời khai lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Quá trình điều tra xác minh theo lời khai của T2 tại xã M, thị xã Q nhưng không có đối tượng nào có tên, tuổi, địa chỉ như T2 đã khai. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
  • - Đối với Nguyễn Văn N có hành vi mua dâm, Đinh Thị T và Hoàng Thị M có hành vi bán dâm, Công an thị xã Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N, T, M là phù hợp với quy định của pháp luật.
  • - Đối với chị Nguyễn Thị L1 là quản lý nhà nghỉ Bên Hồ và chị Lê Thị Hồng O, sinh năm 1964, HKTT: Tổ B, phường M, quận C, TP Hà Nội (là chủ nhà nghỉ Bên Hồ có giấy phép kinh doanh cho thuê nhà nghỉ số 21C8008740). Ngày 13/7/2024, chị L1 trông coi và quản lý nhà nghỉ cho T2 và N thuê phòng nghỉ có yêu cầu N xuất trình căn cước công dân nhưng N nói sẽ đưa sau nên chị L1 đã cho T2 và N thuê phòng. Chị L1 và chị O nhưng không biết T2, T, M và N đến thuê phòng là để mua bán dâm. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q không xử lý mà chỉ nhắc nhở đối với chị L1 và chị O là phù hợp
  • - Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A6 của M sử dụng để liên lạc đi bán dâm cùng T, quá trình điều tra xác định M đã làm rơi chiếc điện thoại trên trong quá trình bị bắt giữ, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã ra thông báo truy tìm vật chứng đến nay chưa thu hồi được.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thị T phạm tội "Môi giới mại dâm".

Căn cứ vào Khoản 1, Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 299, Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt: Đinh Thị T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Giao bị cáo cho UBND thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

  • Tịch thu tiêu huỷ 02 vỏ bao cao su; 02 bao cao su đã qua sử dụng.
  • Sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu Gold và số tiền 3.000.000 đồng.

(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 04 ngày 01/10/2024 giữa Công an thị xã Quế Võ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKS, CA,THADS thị xã Quế Võ;
  • - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - UBND xã Mường Do, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thu T3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về hình sự - môi giới mại dâm

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Môi giới mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Môi giới mại dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger