Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN M

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 30/9/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Củng Trần Lương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thào Thị Thu Nga

2. Ông Phàn Minh Pú

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa: Ông Vừ Mí Sính – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 19/2024/TLST – HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST - HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa 09/2024/ QĐST - HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nùng Thị L, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang; Nơi ở hiện tại: thôn P, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái. Có mặt
  2. Bị đơn: Anh Hò A V, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nùng Thị L trình bày:

Vợ chồng chị đăng kí kết hôn ngày 18/4/2018 tại UBND xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do anh V thường xuyên đánh đập chị L. Đến tháng 12/2022 vợ chồng chị sống ly thân cho đến nay, hiện tại vợ chồng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Mặc dù vợ chồng đã từng cố nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng không được do vợ chồng không còn muốn tiếp tục sống chung với nhau nữa. Đến tháng 03/2023 chị biết tin anh V đã chung sống với người phụ nữ khác tên Sần Thị L1 chị không rõ người này sinh năm bao nhiêu, quê quán ở đâu. Hiện tại chị L đang làm lao động tự do tại thôn P, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái, còn anh V đang làm tại Công ty TNHH C tại tỉnh Hải Dương, chị không biết địa chỉ cụ thể của anh V. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh V được ly hôn với nhau. Về con chung vợ chồng chị có có 02 người con chung là Hò Hồng D, sinh ngày 27/8/2012 và cháu Hò Thị Khúc V1, sinh ngày 08/3/2018. Hiện tại cả hai cháu đang sống cùng với bố. Chị L đề nghị sau khi ly hôn anh V là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả 02 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị L không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Vợ chồng có 01 ngôi nhà, nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về công nợ chung chị khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai cháu Hò Hồng D trình bày:

Cháu là con của bố V, mẹ L, hiện tại cháu đang ở cùng với ông bà nội tại thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang. Hiện tại cháu đang học lớp 6 Trường THCS bán trú xã N, huyện M tỉnh Hà Giang. Bình thường cháu thường xuyên ở trường, thỉnh thoảng về nhà thì thấy bố mẹ cãi chửi nhau, nguyên nhân thì cháu không biết. Hiện tại bố đang đi làm ở tỉnh Hải Dương cháu không biết địa chỉ cụ thể thỉnh thoảng bố có gọi điện thoại về hỏi thăm. Trường hợp bố mẹ không ở với nhau nữa cháu muốn được sống cùng với bố. Khi nào bố đi làm về thì có người phụ nữ tên L1 sang ở nhà cháu với bố, cháu không biết họ tên cũng như địa chỉ cụ thể của cô L1, còn bố đi làm thì cô L1 về xã N.

Tại biên bản xác minh ngày 09/7/2024 tại Công an xã N, trên địa bàn có 02 công dân có cùng tên là Sần Thị L1, một người sinh năm 1992 địa chỉ tại thôn N, xã N hiện nay đang tạm trú tại huyện Q, tỉnh Nghệ An, còn một người sinh năm 1994 địa chỉ thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang hiện nay không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu làm gì, khi đi không báo cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan có thẩm quyền, nên không rõ ngày trở về.

Tại phiên tòa chị Nùng Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Hò A V. Hiện nay chị không còn tình cảm gì với anh V, vợ chồng sống ly thân với nhau đã lâu, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, chị cảm thấy cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không còn nên chị đề nghị được ly hôn với anh Hò A V; về con chung chị đề nghị giao con chung là Hò Hồng D, sinh ngày 27/8/2012 cho anh Hò A V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, còn chị sẽ trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Hò Thị Khúc V1, sinh ngày 08/3/2018, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai. Về tài sản chung, công nợ chung không có chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang trình bày:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ trong việc xác định quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Việc xác minh, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký theo đúng quy định của BLTTDS.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn chị Nùng Thị L đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của BLTTDS.

Bị đơn anh Hò A V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để làm việc. Do vậy gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án:

Quan hệ hôn nhân: Xét thấy việc chị Nùng Thị L có đơn xin ly hôn với anh Hò A V là do anh V không chăm lo cho gia đình, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thường xuyên, vợ chồng sống ly thân với nhau đã lâu không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Hơn nữa anh V cũng đã có tình cảm với người phụ nữ khác. Như vậy, theo đơn khởi kiện cùng những tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay đã đủ căn cứ để xem xét giải quyết vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nùng Thị L, cho chị L được ly hôn với anh V.

Về con chung: Chị L, anh V có 02 người con chung là Hò Hồng D, sinh ngày 27/8/2012 và cháu Hò Thị Khúc V1, sinh ngày 08/3/2018. Tại phiên tòa chị L đề nghị giao cháu Hò Hồng D cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hò Thị Khúc V1, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Do vậy đề nghị HĐXX căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2015 giao cháu Hò Hồng D cho anh H A V và giao cháu Hò Thị Khúc V1 cho chị Nùng Thị L, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật và nguyện vọng của con.

Tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Án phí: Căn cứ vào Điều 147 BLTTDS; Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí HNGĐ-ST cho chị Nùng Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp, qua kết quả thẩm tra các tài liệu chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị Nùng Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn anh Hò A V có địa chỉ tại thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Hò A V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Hò A V.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Nùng Thị L và anh Hò A V có đăng ký kết hôn ngày 18 tháng 4 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang, Giấy chứng nhận kết hôn số 09 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống với nhau vợ chồng có 02 người con chung. Tuy nhiên do anh V thường xuyên uống rượu dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung từ đó mâu thuẫn của vợ chồng càng trở nên gay gắt, đến tháng 12/2022 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc, hỏi thăm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh V không hợp tác không đến làm việc. Hơn nữa qua lời khai của chị Nùng Thị L và cháu Hò Hồng D thì hiện nay anh V đã có tình cảm với người phụ khác. Qua đó cho thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục, không có khả năng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Nùng Thị L và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, cho chị L được ly hôn với anh V.

[3] Về con chung: Tại phiên tòa chị L đề nghị giao cháu Hò Hồng D cho anh V nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, còn chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Hò Thị Khúc V1, vợ chồng không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai. Xét đề nghị là phù hợp với nguyện vọng của con, do vậy HĐXX căn cứ Điều 71, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2015 giao cháu Hò Hồng D cho anh Hò A V và giao cháu Hò Thị Khúc V1 cho chị Nùng Thị L, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

[4] Việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung là không cố định.

[5] Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Nùng Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về công nợ chung: Chị Nùng Thị L khẳng định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Chị L là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí. Do vậy HĐXX căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí HNGĐ-ST cho chị Nùng Thị L. Trả lại số tiền 300.000 đồng cho chị L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003811 ngày 03/6/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nùng Thị L đối với anh Hò A V. Cho chị Nùng Thị L được ly hôn với anh Hò A V.
  2. Về con chung: Giao cháu Hò Hồng D, sinh ngày 27/8/2012 cho anh Hò A V và giao cháu Hò Thị Khúc V1, sinh ngày 08/3/2018 cho chị Nùng Thị L, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

Việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung là không cố định. Trong trường hợp có yêu cầu Tòa án có thể xem xét quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Miễn án phí HNGĐ-ST cho chị Nùng Thị L. Trả lại số tiền 300.000 đồng cho chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003811 ngày 03/6/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

Đương sự có quyền kháng cáo lên cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang
  • - VKSND huyện Mèo Vạc;
  • - Chi cục THADS huyện Mèo Vạc;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Nậm Ban;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Củng Trần Lương

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HNGĐ - ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 10/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nùng Thị L yêu cầu ly hôn với anh Hò A V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger