|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 10/2024/DS-ST Ngày: 27-8-2024 V/v: Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản trên đất. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ánh Hồng
Ông Nguyễn Đăng Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Ông Lý Đình B - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2023/TLST - DS, ngày 06 tháng 11 năm 2023, về việc “Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số số: 12/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Bích L, sinh năm 1994(Có mặt)
Nơi cư trú: Số A, tổ dân phố T, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội
2. Bị đơn: - Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961(vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1972(Có mặt)
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2000(vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Xuân Thanh, xã Thanh Cao, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2003(Vắng mặt)
Đều cư trú: Thôn X, xã T, huyện L, Hòa Bình
- Chị Đặng Thị M, sinh năm 1987(Vắng mặt)
Nơi cư trú: T6, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Bích L trình bày:
Ngày 06 tháng 6 năm 2023 chị L có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, thửa số 360 tờ bản đồ 29 tại X, T (nay là X, T), L, Hòa Bình, diện tích 858m² loại đất ở nông thôn; Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC189157 vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số CH04775 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2015 tên hộ ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Đ; giá chuyển nhượng là 800.000.000đồng (Tám trăm triệu đồng).
Hai bên đã cùng nhau đến UBND xã T chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất. Sau đó thấy giá chuyển nhượng thấp hơn giá quy định của Nhà nước nên hai bên đã thống nhất lại giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 858.000.000 đồng (thực tế giá chuyển nhượng là 800.000.000 đồng). Tại UBND xã T chị L đã giao số tiền 735.000.000 đồng cho các thành viên gia đình ông T bà Đ, chị H, anh T1 và chị M con nuôi ông bà Tỉnh Đ1 là người trực tiếp đếm tiền còn người quản lý tiền là ai chị L không biết. Số tiền còn lại 65.000.000đồng (sáu mươi lăm triệu đồng) chị L hẹn sẽ ngày hôm sau sẽ giao nốt cho gia đình. Do ông T bà Đ1 nói “H1 hay còn gọi là Miền, là con gái nuôi gia đình tôi, cháu đang xử lý công việc và mua bán nhà trên thành phố cho gia đình cứ đưa tiền cho H1”, nên đến ngày 07/6/2023 chị L đã chuyển khoản nốt số tiền 65.000.000 đồng vào tài khoản của chị Đặng Thị M theo số TK 0731000821792 thuộc Ngân hàng TMCP N. Buổi chiều ngày 08/6/2023 chị L cùng ông T, bà Đ1 đến UBND xã T nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được UBND xã T chứng thực xong. Hai bên có thỏa thuận ngoài Hợp đồng là: Bên bán nhận đủ tiền, bên mua sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, hoàn thiện thủ tục pháp lý. Đến ngày 20/9/2023 Chi nhánh VPĐK đất đai huyện L xác nhận chuyển nhượng (xác nhận biến động vào Giấy chứng nhận QSD đất) cho chị L.
Sau khi chuyển nhượng xong, gia đình ông T bà Đ1 có xin được ở lại nhà 01 (một) tháng để chờ con gái nuôi là chị Đặng Thị M, hoàn tất thủ tục mua bán căn chung cư, mở quán bán hàng trên thành phố H đón gia đình lên ở và làm ăn thì sẽ dọn đi. Tuy nhiên chị L chỉ đồng ý cho gia đình ông bà ở không quá 20 ngày. Việc thỏa thuận lưu cư là thỏa thuận miệng với nhau không lập thành văn bản. Nhưng từ đó đến nay gia đình ông bà Tỉnh Đông không bàn giao nhà, giao đất cho chị và không chịu di dời đi chỗ khác với nhiều lý do.
Nay chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc gia đình ông Nguyễn Văn T bà Phạm Thị Đ và các thành viên trong gia đình phải trả cho chị thửa đất số 360, tờ bản đồ số 29 đã đăng ký biến động mang tên Hoàng Thị Bích L ngày 20/9/2023 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; buộc ông bà T, Đ và các thành viên gia đình phải di dời và chấm dứt các hành vi cản trở quyền sử dụng đất của chị.
- Theo biên bản lấy lời khai và bản ý kiến các đồng bị đơn trình bày:
Năm 2021 gia đình ông T bà Đ có mối quan hệ quen biết chị Đặng Thị M. Tháng 3/2022 chị M sinh được 01 con đặt tên là Đ2, biết chị Nguyễn Thị H con gái ông bà không có con nên chị M đã tiếp cận gia đình và chủ động ngỏ ý muốn giao con cho gia đình ông T nuôi dưỡng chăm sóc cháu Đ2. Sau đó gia đình ông T đã thực hiện các thủ tục pháp lý nhận nuôi bé Đ2. Trong thời gian đó chị M có lên thăm bé Đ2, ở lại ăn ở với gia đình và ngỏ ý muốn nhận ông T bà Đ làm bố mẹ nuôi và được gia đình đồng ý. Sau khi tạo được lòng tin với gia đình chị M thường xuyên hỏi vay mượn tiền. Do không có tiền nên chị M đề nghị gia đình ông bà đem giấy chứng nhận QSD đất đi thế chấp đảm bảo cho khoản vay của M. Từ đầu năm 2021 đến tháng 4/2023 tổng số tiền Miền vay của anh T5 ở A, M, Hà Nội là hơn 300.000.000 đồng và gia đình đem xe máy bán đưa cho M 50.000.000đồng.
Đến khoảng tháng 6/2023 M nói với gia đình ông T bà Đ là muốn vay tiền để làm ăn, mua nhà ở thành phố H và mượn Giấy chứng nhận QSD đất thế chấp vay tiền. Do tin tưởng nên gia đình đồng ý cho M mượn sổ đỏ đi thế chấp. Ngày 08/6/2023 M thông báo cho gia đình ông T, bà Đ, chị H, anh T1 lên UBND xã T ký Hợp đồng bảo lãnh đảm bảo cho việc chị M vay tiền của chị Hoàng Thị Bích L, M vay bao nhiêu gia đình không biết. Vì nghĩ là ký Hợp đồng bảo lãnh để đảm bảo cho chị M vay tiền chị L cũng như khoản tiền M đã vay của anh T5 trước đó, gia đình ông T bà Đ đã không đọc lại nội dung của các văn bản mà M giao cho và hướng dẫn ký điểm chỉ, các thành viên gia đình đã ký và điểm chỉ vào văn bản tại UBND xã. Đến tháng 9/2023 gia đình thấy chị L gọi điện yêu cầu gia đình trả nợ, gia đình có hỏi chị M thì chị M trả lời: “con vay số tiền 515.000.000đồng thôi, trong đó 340.000.000đồng trả cho T5 còn 175.000.000đồng L chuyển khoản cho con”. Như vậy gia đình ông bà chỉ đem quyền sử dụng đất thửa 360 tờ bản đồ 29 diện tích 858m² thế chấp cho chị L để đảm bảo cho khoản vay của chị M vay chị L chứ gia đình không chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chị L, gia đình không được nhận bất cứ khoản tiền nào của chị L.
Mặt khác trong file ghi âm chị L gọi cho gia đình ông T chị L đòi tiền mà chị M vay không trả, không trả tiền thì sẽ bán đất cho người khác. Từ khi ký Hợp đồng bảo lãnh đến nay gia đình ông T, bà Đ vẫn sinh sống, quản lý và sử dụng thửa đất 360. Tại thời điểm ký hợp đồng bảo lãnh, giá trị thửa đất số 360 có giá trị hơn 4.000.000.000 đồng. Ngoài ra gia đình chỉ thế chấp quyền sử dụng đất cho chị M vay tiền, hiện nay trên đất có 01 ngôi nhà 2 tầng 1 tum, công trình phụ, tường bao, cây cối, những tài sản này không thuộc đối tượng đưa ra bảo lãnh cho khoản vay của chị M, nên việc chị L yêu cầu gia đình ông T bà Đ bàn giao tài sản trên đất là vô lý trái pháp luật, trực tiếp xâm phạm tới quyền và lợi ích của gia đình.
Gia đình ông T, bà Đ, chị H, anh T1 có đơn phản tố đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Bích L về việc yêu cầu gia đình ông T, bà Đ di dời chỗ ở đi nơi khác trả lại đất và tài sản cho chị L theo Hợp đồng mua bán đã ký kết ngày 08/6/2023.
- Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết giữ ông T, bà Đ, chị H, anh T1 với chị L đối với quyền sử dụng đất thửa số 360 tờ bản đồ 29 diện tích 858m² (Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC189157 vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số CH04775 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2015 tên hộ ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Đ) vô hiệu do giả tạo.
- Buộc chị Đặng Thị M là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải trả toàn bộ số tiền vay gốc 515.000.000đồng và tiền lãi trên số tiền nợ gốc vay (nếu có) cho chị L.
- Ý kiến của UBND xã T xác nhận: Ngày 08 tháng 6 năm 2023, UBND xã T tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị Đ, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T1 - bên nhận chuyển nhượng là chị Hoàng Thị Bích L. Gia đình ông T, bà Đ, chị H, anh T1 chuyển nhượng cho chị L toàn bộ diện tích đất thửa số 360 tờ bản đồ số 29 tại X, T (nay là X, T), Lương S, Hòa Bình, Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC189157 vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số CH04775 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2015 tên hộ ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Đ; giá chuyển nhượng là 858.000.000đồng (T2 trăm năm mươi tám triệu đồng). Sau khi kiểm tra Giấy chứng nhận QSD đất, giấy tờ về nhân thân của hai bên tham gia giao kết Hợp đồng chuyển nhượng đất; tại thời điểm lập Hồ sơ yêu cầu chứng thực, các bên tham gia Hợp đồng có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng và cùng ký vào Hợp đồng trước mặt bà Quách Phương T3 là người tiếp nhận hồ sơ; UBND xã T đã chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số chứng thực 99 quyển số 01/2023-SCT/HĐ,GD. Việc UBND chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục pháp lý.
- Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú, chỗ ở của chị Đặng Thị M: Chị Đặng Thị M có đăng ký nhân khẩu thường trú tại TDP P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; hiện chị Đặng Thị M không có mặt tại nơi cứ trú, không đăng ký tạm trú chỗ khác, đi đâu làm gì không rõ.
- Xác minh đối với anh Đỗ Quang T4, sinh năm 1988 (chồng chị M) và bà Lê Thị Q (mẹ chồng chị M) được biết: Từ năm 2018 đến nay chị M đi đâu, làm gì gia đình không biết; chị M không liên hệ gì với gia đình chồng con. Việc chị M vay mượn tiền của nhiều người gia đình chồng con không biết và không được sử dụng các khoản tiền này.
- Tài liệu do Chi nhánh VPĐK đất đai cung cấp: Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất; Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất ngày 08/6/2023 và nghĩa vụ tài chính đối với việc đăng ký biến động đất và tài sản gắn liền với đất.
- Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/12/2023 và định giá tài sản:
- Thửa đất 360 diện tích 858m² trị giá: 1.029.600.000 đồng
- Giá trị nhà và tài sản trên đất trị giá: 474.223.767 đồng
Tổng cộng giá trị đất và tài sản gắn liền với đất là: 1.503.823.676 đồng.
Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn đã tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ nhưng phía bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ nhưng không có mặt; nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, do đó vụ án phải đưa ra xét xử.
Tại phiên tòa Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đòi lại nhà và đất; chị L xác nhận giá chuyển nhượng thửa đất số 360 là 800.000.000 đồng nhưng thống nhất ghi trong hợp đồng là 858.000.000đồng (T2 trăm năm mươi tám triệu đồng) cho phù hợp với giá quy định của Nhà nước; chị L. đã giao tiền cho gia đình ông T, bà Đ tại sảnh UBND xã là 735.000.000 đồng (nhưng chị L đếm nhầm nên đã giao số tiền thực tế là: 738.000.000 đồng) chị L đã thông báo lại cho gia đình phía bị đơn, số còn lại 62.000.000 đồng đồng chị L chuyển vào tài khoản chị M như yêu cầu của gia đình ông T, bà Đ.
Bị đơn bà Phạm Thị Đ trình bày: Gia đình bà không bán nhà đất, chỉ ký để bảo lãnh cho bị M vay tiền, bao giờ công an bắt được chị M gia đình bà mới đồng ý thỏa thuận giải quyết việc vay nợ với chị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1. Chị Hoàng Thị Bích L khởi kiện đòi tài sản là quyền sử dụng thửa đất và tài sản gắn liền với đất số 360 tờ bản đồ 29 địa chỉ: thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị Đ, chị Nguyễn Thị H đều cư trú tại thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền về loại việc và thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn.
Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ cho các đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đã xác định được phạm vi khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự không có khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tiến hành tố tụng của TAND huyện Lương Sơn nên hành vi, quyết định tố tụng là hợp pháp, tuân thủ quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
1.2. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai; chị Đặng Thị M đã được tống đạt và niêm yết hợp lệ. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Bích L.
Thửa số 360 tờ bản đồ 29 diện tích 858m², Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC189157 vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số CH04775 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2015 mang tên hộ ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Đ thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình ông T, bà Đ.
Ngày 08/6/2023 gia đình ông bà Tỉnh Đông và các thành viên đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất 360, tờ bản đồ 29, diện tích 858m² loại đất ở nông thôn và toàn bộ tài sản trên đất gồm nhà ở, công trình phụ và cây cối tại địa chỉ: thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình, với giá trị chuyển nhượng là 858.000.000 đồng và được công chứng hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Thực hiện hợp đồng chị Hoàng Thị Bích L đã thanh toán tiền theo đúng thỏa thuận và thực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý, nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, nên ngày 20/9/2023 Chi nhánh VPĐK đất đai huyện L xác nhận chuyển nhượng, tại trang IV Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC189157 vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số CH04775 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2015 tên hộ ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Đ sang tên chị Hoàng Thị Bích L.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 508 Bộ luật Dân sự thì việc chuyển nhượng Quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Đây là thời điểm hoàn thành việc chuyển nhượng.
Tại khoản 9 và khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất.... của người có quyền sử dụng đất.
Theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Xác định chị Hoàng Thị Bích L là người có quyền sở hữu quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ 29, diện tích 858m² địa chỉ: thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Chị L có đầy đủ quyền năng của chủ sở hữu đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn phải trả lại đất và tài sản gắn liền với đất là có căn cứ và hợp pháp nên cần chấp nhận.
2.2. Đối với ý kiến của các đồng bị đơn:
Thứ nhất: Ngày 31/5/2024 Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã có Thông báo số 01/TB-TA về việc nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu phản tố; văn bản đã được tống đạt hợp lệ nhưng gia đình phía bị đơn không thực hiện nghĩa vụ theo thông báo. Căn cứ Điều 146, Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về: Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí....Bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Thứ hai: Đối với chiếc USB phía bị đơn giao nộp: Tòa án đã yêu cầu phía bị đơn chứng minh nguồn gốc và xuất xứ của tài liệu, nhưng phía bị đơn không cung cấp được. Căn cứ Điều 93, 94, 95 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây không phải là chứng cứ để xem xét trong vụ án.
Thứ ba: Các đồng bị đơn và người liên quan cho rằng giữa các đương sự không có giao dịch chuyển nhượng, chỉ là giao dịch vay mượn giữa chị Đặng Thị M và chị Hoàng Thị Bích L, hợp đồng chuyển nhượng là giả tạo, gia đình chỉ ký hợp đồng bảo lãnh cho bị M vay tiền của chị L, gia đình cũng không được nhận tiền. Xác nhận ngày 08/6/2023 UBND xã T, huyện L đã tiến hành công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị Đ, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T1 và bên nhận chuyển nhượng là chị Hoàng Thị Bích L với nội dung như hợp đồng chuyển nhượng thể hiện và được cán bộ thực hiện việc công chứng đúng quy định của pháp luật, xác nhận các bên tham gia việc công chứng hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo, tự nguyện. Hợp đồng chuyển nhượng giữa nguyên đơn và bị đơn không vi phạm về hình thức, không vi phạm nội dung.
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác minh tại thời điểm chuyển nhượng không tồn tại một hợp đồng vay nào khác, phía bị đơn cũng không cung cấp được tài liệu chứng minh cho việc vay mượn, ký bảo lãnh và giả tạo của hợp đồng chuyển nhượng.
Đối với ý kiến của bị đơn cho rằng không được nhận tiền bán đất, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/12/2023 ông bà T, Đ khai: có thấy chị M nhận tiền từ chị L và trả cho anh Cao Bằng T5 vì trước đó vợ chồng bà đã thế chấp bìa đất cho anh T5 để vay tiền, chị M lấy tiền từ chị L để trả cho anh T5 và rút bìa đất về giao cho chị L tại UBND xã T, trước sự chứng kiến của ông T, bà Đ và các thành viên khác trong gia đình. Nhận thấy việc giao nhận tiền của chị M ông T, bà Đ đều biết và không có ý kiến gì nên có cơ sở khẳng định gia đình ông T và các thành viên đã được nhận số tiền chuyển nhượng đất từ chị L.
Thứ tư: Phía bị đơn cho rằng tại thời điểm chuyển nhượng giá trị của đất và tài sản gắn liền với đất khoảng 4.000.000.000 đồng.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng thì các bên đương sự có quyền tự nguyện thỏa thuận với nhau tất cả các vấn đề trong hợp đồng bao gồm cả giá trị của tài sản giao dịch. Việc hai bên đã tự nguyện giao kết hợp đồng thể hiện ý chí theo các nội dung trong hợp đồng, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với cơ quan Nhà nước. Đây là thỏa thuận tự nguyện của các bên không phải là căn cứ xác định hiệu lực của hợp đồng trong vụ án.
Thứ năm: Phía bị đơn cho rằng chỉ ký hợp đồng đối với đất chứ không ký đối với tài sản trên đất: Tại Điều 2 Hợp đồng chuyển nhượng ghi rất rõ: ....Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất nêu tại Điều 1 Hợp đồng này.... Hơn nữa: Căn cứ vào lời trình bày của chị L và xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T cũng như các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định Hợp đồng dân sự đã có hiệu lực pháp luật, đã được cập nhật biến động tại trang IV Giấy chứng nhận QSD đất nên các bên phải chấp hành; Thửa 360 tờ bản đồ 29 + tài sản trên đất (Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC189157 vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số CH04775 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2015 tên hộ ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Đ) thuộc quyền sử dụng của chị Hoàng Thị Bích L.
Thứ sáu: Phía bị đơn yêu cầu tòa án buộc chị Đặng Thị M phải trả cho chị Hoàng Thị Bích L số tiền vay gốc 515.000.000đồng và tiền lãi trên số tiền nợ gốc vay (nếu có) cho chị L. Xét đây là giao dịch dân sự khác không liên quan đến vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về chi phí tố tụng: cho việc xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn đã nộp số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng và tự nguyện chịu chi phí này. Xét sự tự nguyện trên không trái quy định và có lợi cho phía bị đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận nên phía bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Hoàn trả lại cho Nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2, khoản 14 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 163, 164, 166, 169 và Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 9 và khoản 16 Điều 3; khoản 1 Điều 12; Điều 99, 100, 166, 188 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vị Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Bích L.
- Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị Đ, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T1 phải trả cho chị Hoàng Thị Bích L thửa đất thửa số 360 tờ bản đồ 29 diện tích 858m² Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC189157 vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số CH04775 do UBND huyện L cấp ngày 31/12/2015 tên hộ ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Đ đã sang tên người sử dụng bà Hoàng Thị Bích L.
- Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị Đ, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T1 phải di dời khỏi thửa đất 360 tờ bản đồ 29 diện tích 858m² địa chỉ: thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình thuộc quyền quản lý, sử dụng của chị Hoàng Thị Bích L.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị Đ, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn T1 phải phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí cho chị Hoàng Thị Bích L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001058 ngày 03/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thêu |
Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản trên đất.
- Số bản án: 10/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản trên đất.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: DS L- T, Đ đòi tài sản là QSD đất
