Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19 - 4 - 2024

V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN- TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Sơn
  2. Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Phương - Thư ký tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ hành Sơn, TP. Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm: 1983

Địa chỉ: Tổ 48, phường Hòa H, quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng;

Địa chỉ liên hệ: Số 32/4 đường Phan Đăng L, phường Hòa Cường B, quận Hải C, thành phố Đà Nẵng- Có mặt;

2. Bị đơn: Ông Lê Hoàng L1, sinh năm: 1981

Địa chỉ: Tổ 48, phường Hòa H, quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10/7/2023, bản trình bày và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ngô Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Lê Hoàng L1 kết hôn với nhau vào năm 2005 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại tổ 30 phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng, năm 2009 chuyển về sống tại tổ 48, phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì tình cảm phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống không phù hợp dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng.

Hiện nay đời sống chung không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên hai bên không còn phù hợp nhau về mọi mặt nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Lê Hoàng L1.

- Về con chung: Vợ chồng tôi có 02 con chung tên là Lê Thùy T1, sinh ngày 21/5/2007 và Lê Thùy T2, sinh ngày 16/6/2014. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con cho đến khi các con đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Lê Hoàng L1 đã được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông L1 trình bày ý kiến, cung cấp các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nhưng ông L1 vẫn vắng mặt nên tòa án không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát biểu ý kiến về việc Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời những người tham gia tố tụng cũng đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn là ông Lê Hoàng L1 đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51; 56; 58, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ các Điều 35; Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn và nuôi con chung của bà Ngô Thị T đối với ông Lê Hoàng L1.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị T được ly hôn với ông Lê Hoàng L1.

Về con chung: Giao hai con Lê Thùy T1, sinh ngày 21/5/2007 và Lê Thùy T2, sinh ngày 16/6/2014 cho bà Ngô Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, ông Lê Hoàng L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Ngô Thị T nộp tại Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 28; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn là ông Lê Hoàng L1 vắng mặt không có lý do. Xét thấy trong qúa trình giải quyết vụ án, tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Bà Ngô Thị T và ông Lê Hoàng L1 kết hôn vào năm 2005 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là đôi hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo khai nại của bà T, trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì tình cảm phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống không phù hợp dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng.

Qua quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông L1 tồn tại nhưng không thực sự hạnh phúc, vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, giữa họ chỉ có trên danh nghĩa vợ chồng, đã từ lâu không còn trách nhiệm gì với nhau. Do đó, bà T đã đưa các con về nhà cha mẹ đẻ sinh sống.

Việc bà T cương quyết xin ly hôn còn ông L1 vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án cũng không có ý kiến của ông L1 để hòa giải, động viên vợ chồng về sống đoàn tụ gia đình, nhằm khắc phục được sự mâu thuẫn để có sức thuyết phục, níu kéo bà T trở lại hàn gắn hạnh phúc gia đình để nuôi dạy con cái trưởng thành. Vì vậy, Hội đồng xét xử cũng không có cơ sở để bảo vệ cho ông L1 được.

Qua điều tra, xác minh tại địa phương cho thấy bà Ngô Thị T và ông Lê Hoàng L1 có hộ khẩu thường trú tại tổ 48, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng; về tình trạng hôn nhân giữa bà Ngô Thị T và ông Lê Hoàng L1 như thế nào thì không nắm rõ mà chỉ biết hiện tại hai vợ chồng không sống cùng nhau, hiện nay bà T cùng hai con đã chuyển về sống tại nhà cha mẹ đẻ của bà T ở được vài tháng nay, còn ông L1 đang sống tại địa phương;

Hội đồng xét xử xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như như đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ.

[3] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Ngô Thị T và ông Lê Hoàng L1 thực sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận cho bà Ngô Thị T được ly hôn ông Lê Hoàng L1 để giải phóng cho nhau là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Vợ chồng bà T và ông L1 có 02 con chung tên là Lê Thùy T1, sinh ngày 21/5/2007 và Lê Thùy T2, sinh ngày 16/6/2014. Ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con cho đến khi các con đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Ở đây cả hai cháu Thùy T1 và Thùy T2 hiện còn nhỏ và đang ở với mẹ từ trước đến nay nên cuộc sống của các cháu cần có sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như việc nuôi dưỡng của mẹ đối với con; hơn nữa cả hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ để thuận tiện cho việc đi học; điều đó cũng phù hợp với nguyện vọng của bà T được nuôi dưỡng các cháu để thuận tiện cho việc chăm sóc, giáo dục con. Xuất phát từ quyền lợi mọi mặt của các cháu, Hội đồng xét xử xét cần giao hai cháu cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Tại phiên tòa bà T không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con chung là ý chí tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

- Về tài sản chung: Bà T xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

- Về nợ chung: Bà T xác định không có nợ chung nên không xem xét.

[4] Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Ngô Thị T phải chịu.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Ngô Thị T với ông Lê Hoàng L1.

Tuyên xử:

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị T được ly hôn với ông Lê Hoàng L1.
  2. 2. Về con chung: Giao hai con 02 con Lê Thùy T1, sinh ngày 21/5/2007 và Lê Thùy T2, sinh ngày 16/6/2014 cho bà Ngô Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, ông Lê Hoàng L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Bên không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

  3. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.
  4. 4. Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Ngô Thị T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0001621 ngày 20/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Ngũ Hành Sơn;
  • - Chi cục THADS quận Ngũ Hành Sơn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, TP. ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thú- Long
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger