Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 10/2024/DS-ST

Ngày 19-9-2024

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Phong Lan
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Văn Hạnh
    • Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 788/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 894/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á (A); địa chỉ trụ sở: D N, phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích L là người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền ngày 10/6/2024); có mặt.
  • - Bị đơn: Anh Phạm Thế T, sinh năm 1987; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D M, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số A ngõ B V, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Bà Nguyễn Thị Hương L1 trình bày:

Ngày 01/10/2019 Ngân hàng TMCP Á – Chi nhánh H (Sau đây gọi tắt là A) và anh Phạm Thế T đã ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của A - Các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Hợp đồng nêu trên quy định nội dung cơ bản sau:

  • + Số thẻ tín dụng: 356795******4314
  • + Ngày cấp: 08/10/2019
  • + Loại thẻ: JCB (Thẻ tín dụng quốc tế)
  • + Hạn mức thẻ: 30.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba mươi triệu đồng)
  • + Hiệu lực thẻ: Tháng 10/2022
  • + Hiệu lực thẻ: 36 tháng
  • + Lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A – là một phần không tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh T đã thực hiện các giao dịch phát sinh với tổng số tiền là 551.381.222 đồng (Năm trăm năm mươi mốt triệu, ba trăm tám mươi mốt ngàn, hai trăm hai mươi hai đồng); trong đó: nợ gốc là: 542.446.000 đồng; nợ lãi là: 5.856.222 đồng; phí là: 3.079.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 05/8/2022 anh T đã thanh toán cho A số tiền 528.443.000 đồng (Năm trăm hai mươi tám triệu, bốn trăm bốn mươi ba ngàn đồng). Trong đó: Trả nợ gốc là 519.507.778 đồng; trả lãi và phí là 8.935.222 đồng. Sau đó đến hạn thanh toán theo quy định, anh T không thanh toán cho Ngân hàng. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với anh T, yêu cầu anh T có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để anh T trả nợ, tuy nhiên anh T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho A, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Do anh T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 31/01/2023 A đã chuyển khoản nợ thẻ của anh T sang nợ quá hạn, bắt đầu áp dụng lãi suất quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ trước hạn.

Nay nguyên đơn – A khởi kiện và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc anh Phạm Thế T phải trả số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm – ngày 19/9/2024 là 36.772.282 đồng, trong đó: Nợ gốc là 22.938.222 đồng, nợ lãi quá hạn là 13.834.060 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo (Ngày 20/9/2024) với lãi suất quá hạn được quy định trong Hợp đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong.

Quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo hòa giải và công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án cho bị đơn là anh Phạm Thế T, anh T đã được nhận các văn bản tố tụng trên, biết việc A khởi tại Tòa án, yêu cầu anh T thanh toán nợ, tuy nhiên anh T đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày ở trên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định về quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 117, Điều 119; Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 90, 91, 95, 98 của Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng A, buộc anh Phạm Thế T phải trả ngay cho Ngân hàng ACB tổng dư nợ còn thiếu tính đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 19/9/2024) là 36.772.282 đồng (Ba mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi hai ngàn, hai trăm tám mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc là 22.938.222 đồng, nợ lãi quá hạn là 13.834.060 đồng và tiếp tục trả khoản nợ lãi phát sinh từ sau ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 20/9/2024) cho đến khi tất toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo quy định của Hợp đồng đã ký.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Anh Phạm Thế T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại Ngân hàng A số tiền 1.000.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0201161649 ngày 11/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, Hải Phòng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng A và anh Phạm Thế T với mục đích tiêu dùng cá nhân, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về Dân sự. Bị đơn - Anh Phạm Thế T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số D M, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng. Theo xác nhận của Công an phường N, anh T hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Số A ngõ B V, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, bị đơn là anh Phạm Thế T vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai. Bởi vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Thế T.

- Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[5] Về hiệu lực của hợp đồng đã giao kết giữa các bên: Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng A và anh Phạm Thế T ngày 01/10/2019 trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật. Hình thức và nội dung của hợp đồng nêu trên phù hợp với các quy định của Điều 116, Điều 117, Điều 119 và phù hợp với quy định của các điều 90, 91, 94 và 95 của Luật các Tổ chức tín dụng. Bởi vậy Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng trên là hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên, buộc các bên trong hợp đồng phải thực hiện.

[5] Quá trình thực hiện Hợp đồng: Sau khi giao kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, Ngân hàng A đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình là cấp thẻ cho anh T sử dụng đúng loại thẻ, đủ hạn mức như đã thỏa thuận; về phía bị đơn - Anh Phạm Thế T đã thực hiện các giao dịch phát sinh trong quá trình sử dụng thẻ với tổng số tiền là 551.381.222 đồng (Năm trăm năm mươi mốt triệu, ba trăm tám mươi mốt ngàn, hai trăm hai mươi hai đồng); trong đó: nợ gốc là: 542.446.000 đồng; nợ lãi là: 5.856.222 đồng; phí là: 3.079.000 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 05/8/2022 anh T đã thanh toán cho A số tiền 528.443.000 đồng (Năm trăm hai mươi tám triệu, bốn trăm bốn mươi bà ngàn đồng). Trong đó : Trả nợ gốc là 519.507.778 đồng; trả lãi và phí là 8.935.222 đồng, K từ ngày ngày 05/9/2022 anh T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó ngày 31/01/2023 A đã chuyển khoản nợ thẻ của anh T sang nợ quá hạn, bắt đầu áp dụng lãi suất quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ trước hạn.

[6] Do anh T vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã cam kết trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng như nêu trên, nên việc Ngân hàng A khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc anh T phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 19/9/2024 ) là 36.772.282 đồng, trong đó: Nợ gốc là 22.938.222 đồng, nợ lãi quá hạn là 13.834.060 đồng và tiếp tục trả khoản nợ lãi phát sinh từ sau ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 20/9/2024) cho đến khi tất toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo quy định của Hợp đồng đã ký là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về án phí:

[7] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền là 36.772.282 đồng (Ba mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi hai ngàn, hai trăm tám mươi hai đồng) được Tòa án chấp nhận, nên theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự với mức thu là 1.838.000 đồng (Một triệu tám trăm ba mươi tám ngàn đồng). Hoàn trả lại Ngân hàng A số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) là tiền tạm ứng án phí Ngân hàng A đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 90, Điều 91, Điều 94 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Buộc anh Phạm Thế T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Á (A) số nợ tính đến ngày xét xử (Ngày 19/9/2024) là 36.772.282 đồng (Ba mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi hai ngàn, hai trăm tám mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc là 22.938.222 đồng, nợ lãi quá hạn là 13.834.060 đồng.
  2. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 20/9/2024) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng đã ký kết nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Anh Phạm Thế T phải chịu 1.838.000 đồng (Một triệu tám trăm ba mươi tám ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Trả lại Ngân hàng TMCP Á (A) số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) là tiền tạm ứng án phí Ngân hàng TMCP Á (A) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003005 ngày 11/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền.
  4. Về quyền kháng cáo:
    • - Ngân hàng TMCP Á (A) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • - Anh Phạm Thế T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Phong Lan

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Phong Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 10/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ACB - Tùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger