Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/KDTM-ST
Ngày: 17 - 7 - 2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng thế chấp xe ô tô”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Bùi Đức Nhân
  2. Bà Hồ Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2023/TLST-KDTM ngày 26 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp xe ô tô” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/QĐXXST-KDTM ngày 22 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 120/2024/QĐST-KDTM ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ; địa chỉ trụ sở chính: số B N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
  2. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lưu Hoài N - chức vụ: chuyên gia tố tụng-Phòng quản lý khách hàng doanh nghiệp khu vực miền B - khối quản lý và tái cấu trúc tài sản P1 là người đại diện theo ủy quyền theo giấy ủy quyền số 8527/UQ-PVB ngày 22/4/2024, có mặt.

  3. Bị đơn: Công ty TNHH một thành viên D; địa chỉ trụ sở công ty: tổ G, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  4. Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trương Văn P - chức danh: Giám đốc là người đại diện theo pháp luật, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa - người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - ông Lưu Hoài N trình bày:

    Ngày 16/07/2020, Ngân hàng TMCP Đ (sau đây viết tắt là P1) và Công ty TNHH Một thành viên D (sau đây viết tắt là Công ty D) đã thỏa thuận đồng ý ký kết Hợp đồng tín dụng số 68/2020/HĐTD/PVB-CNQN với các nội dung như sau:

    • Số tiền được cấp hạn mức: 9.000.000.000đ (chín tỷ đồng);
    • Thời gian cho vay: 36 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên ngày 16/7/2020.
    • Mục đích cho vay: bổ sung vốn trung hạn đầu tư mua sắm tài sản cố định: thanh toán tiền mua 05 xe ô tô tải hiệu Guerte Model GT 3600, động cơ WP12G430E310 theo hợp đồng mua bán số 224.2020/HĐJBC-TĐ ngày 22/04/2020 giữa Công ty TNHH MTV Đ1 và Công ty TNHH MTV D.
    • Lãi suất cho vay trong 03 tháng đầu kể từ ngày giải ngân là 12,75%. Lãi suất cho vay trong thời gian tiếp theo được điều chỉnh như sau: lãi suất cho vay tại thời điểm điều chỉnh = LSCS + biên độ tối thiểu 5.0%/năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 01/11/2020. Kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng/01 lần.
    • Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn.
    • Lãi chậm trả: trường hợp bên vay không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản tiền lãi, bên vay đồng ý trả lãi tính trên số lãi chậm thanh toán với mức lãi suất là 10%/năm tương ứng với thời gian chậm trả.

    Thực hiện hợp đồng vay, P1 đã giải ngân cho Công ty D theo khế ước nhận nợ số LD2019893243 ngày 16/7/2020 số tiền giải ngân là 8.900.000.000 đồng, ngày giải ngân 16/7/2020, ngày hết hạn 16/7/2023.

    Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty D tại P1, Công ty D đã thế chấp các tài sản theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số 68/2020/HĐBĐ/PVB-CNQN ngày 16/7/2020, cụ thể:

    • Xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CHJ0000898, số máy 01419K129712, biển số 14HC-023.55, chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085332 do Phòng C Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020, tên chủ xe: Công ty TNHH MTV D.
    • Xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CFJ0000895, số máy 01419K129708, biển số 14HC-023.44, Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085330 do Phòng C Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020, tên chủ xe: Công ty TNHH MTV D.
    • Xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CLJ0000902, số máy 01419K129346, biển số 14HC-024.49, Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085333 do Phòng C Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020, tên chủ xe: Công ty TNHH MTV D.
    • Xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00COJ0000906, số máy 01419L135911, biển số 14HC-023.47, Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085329 do Phòng C Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020, tên chủ xe: Công ty TNHH MTV D.
    • Xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CJJ0000900, số máy 01419K129348, biển số 14HC-024.54, Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085336 do Phòng C Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020, tên chủ xe: Công ty TNHH MTV D.

    Các tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

    Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, Công ty D đã vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận về nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi vay, không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của bên vay, mặc dù đã được P1 tạo điều kiện nhiều lần về việc trả nợ, Công ty D vẫn không thanh toán đúng hạn. Khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ tháng 01/2021.

    Sau một thời gian làm việc và đôn đốc, Công ty D mới chỉ trả được một phần nợ gốc, lãi; cụ thể: số tiền gốc 711.273.986 đồng, số tiền lãi 252.133.651 đồng, tổng số tiền đã trả 963.407.637 đồng.

    P1 đã nhiều lần gửi công văn, thông báo nghĩa vụ trả nợ và vi phạm nghĩa vụ cũng như làm việc trực tiếp với Công ty D về việc yêu cầu Công ty D thực hiện theo nghĩa vụ trả nợ thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và các Khế ước nhận nợ đã ký. Tuy nhiên, Công ty D cũng như những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện.

    Tạm tính đến ngày 14/06/2023, nghĩa vụ nợ của Công ty D tại P1 theo Hợp đồng tín dụng nêu trên cụ thể như sau: nợ gốc: 8.188.726.014 đồng; nợ lãi trong hạn: 1.693.315.276 đồng; nợ lãi quá hạn: 1.851.785.725 đồng; nợ lãi chậm trả: 280.973.391 đồng. Tổng nợ là: 12.014.800.406 đồng

    Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của P1, P1 khởi kiện Công ty D yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

    • Buộc Công ty TNHH Một thành viên D phải trả ngay cho P1 toàn bộ số tiền vay (gốc và lãi) theo Hợp đồng tín dụng số 68/2020/HĐTD/PVB-CNQN ngày 16/07/2020 với tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 14/06/2023 là: 12.014.800.406 đồng, trong đó N1 gốc là: 8.188.726.014 đồng; nợ lãi trong hạn: 1.693.315.276 đồng; nợ lãi quá hạn: 1.851.785.725 đồng và nợ lãi chậm trả 280.973.391 đồng.
    • Buộc Công ty TNHH Một thành viên D phải tiếp tục trả cho P1 các khoản nợ lãi phát sinh với mức lãi suất quá hạn từ ngày 14/06/2023 theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 68/2020/HĐTD/PVB-CNQN ngày 16/07/2020 cho đến khi tất toán khoản vay.
    • Kể từ ngày Quyết định/Bản án có hiệu lực, Công ty TNHH Một thành viên D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì P1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 68/2020/HĐBĐ/PVB-CNQN ngày 16/07/2020.
    • Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nghĩa vụ trả nợ, thì Công ty D phải tiếp tục trả cho Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ.
  2. Tại bản tự khai, người đại diện theo pháp luật của bị đơn - ông Trương Văn P trình bày:

    Ngày 16/7/2020, Công ty TNHH một thành viên D (Công ty D) và Ngân hàng TMCP Đ (P1) có ký Hợp đồng tín dụng số 68/2020/HĐTD/PVB-CNQN để vay số tiền 9.000.000.000đ (chín tỷ đồng) để bổ sung vốn trung hạn đầu tư mua sắm tài sản cố định (thanh toán mua 05 xe ô tô tải). Ngày 16/7/2020, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty D số tiền 8.900.000.000đ (tám tỷ, chín trăm triệu đồng).

    Để đảm bảo cho khoản vay của hợp đồng tín dụng, công ty đã thế chấp các tài sản theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 68/2020/HĐBĐ/PVB-CNQN ngày 16/7/2020. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, Công ty D đã gặp khó khăn trong kinh doanh nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng. Nay, P1 khởi kiện Công ty D, quan điểm của bị đơn đề nghị Ngân hàng xem xét tạo điều kiện giãn các kỳ trả nợ cho bị đơn.

    Sau khi cung cấp lời khai, Công ty D không lên Tòa án theo triệu tập của Tòa án. Tiến hành xác minh tại tổ G, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh là địa chỉ theo giấy đăng ký kinh doanh được thay đổi thứ 4 lần ngày 17/4/2023 thì được biết trước đây Công ty TNHH MTV D có văn phòng tại tổ G, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Nay ngôi nhà mà Công ty D làm văn phòng đã bán cho chủ mới. Công ty D đã chuyển đi nơi khác không biết ở đâu.

    Qua xác minh tại Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Q xác định Công ty TNHH MTV D vẫn trong tình trạng: Đang hoạt động, địa chỉ công ty theo đăng ký kinh doanh không thay đổi.

  3. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thông báo về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đã tống đạt, niêm yết hợp lệ cho Công ty D nhưng Công ty D đều vắng mặt. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên căn cứ vào khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
  4. Tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thì thấy: tại khai trường Than Cọc S có 03 xe gồm: xe ô tô tải tự đổ biển số 14HC-024.49, tại thời điểm thẩm định xe đang bảo dưỡng, lắp lốp nên không nổ máy vận hành được; xe ô tô tải tự đổ, biển số 14HC-023.47, tại thời điểm thẩm định xe nổ máy được, vận hành bình thường; xe ô tô tải tự đổ, biển số 14HC-024.54, tại thời điểm thẩm định xe đang bảo dưỡng, cục máy đang mang đi bảo dưỡng, chờ lắp lốp nên không nổ máy vận hành được.

    Tại khai trường Công ty T có 02 xe gồm: xe ô tô tải tự đổ, biển số 14HC-023.55, tại thời điểm thẩm định xe nổ máy, vận hành bình thường, các thông số kỹ thật khác giống như trong giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085332; xe ô tô tải tự đổ, biển số 14HC-023.44, tại thời điểm thẩm định xe đang bảo dưỡng chờ lắp lốp, làm cầu, máy cần sửa chữa một số bộ phận nên không nổ máy, vận hành được.

  5. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: nợ gốc được trả định kỳ 03 tháng/lần. Lãi vay được trả định kỳ hàng tháng. Lãi vay được tính = (số dư thực tế x với số ngày duy trì số dư thực tế x lãi suất cho vay): 365, đối với khoản vay của Công ty D 03 tháng đầu tiên áp dụng mức lãi suất 12,75%, sau đó đều duy trì mức lãi suất 16.5%. Lãi suất quá hạn được tính trên số nợ gốc đến kỳ trả nợ chưa trả với mức lãi suất 150% lãi suất trong hạn. Khoản nợ của Công ty D bắt đầu quá hạn từ ngày 06/01/2021, quá hạn toàn bộ vào ngày 16/7/2023. Lãi chậm trả được tính trên lãi trong hạn chậm thanh toán với mức lãi suất 10%/năm. Đối với 03 xe ô tô tại thời điểm thẩm định bị hỏng, đang sửa chữa, bảo hành, không nổ máy nguyên đơn vẫn yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp.

    Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về nợ gốc, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, bổ sung yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/7/2024). Nguyên đơn yêu cầu bị đơn chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

  6. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

    - Về tố tụng:

    Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    - Về nội dung vụ án:

    Căn cứ vào Điều 319, Điều 351, Điều 357, Điều 323, Điều 303, Điều 385, Điều 401, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

P1 khởi kiện Công ty D tranh chấp hợp đồng tín dụng, mục đích vay tiền là để bổ sung vốn trung hạn đầu tư mua sắm 05 xe ô tô tải để phục vụ kinh doanh nên được xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Công ty D có trụ sở tại tổ G, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Đối với việc vắng mặt của bị đơn:

sau khi thụ lý vụ án, bị đơn đã nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự; quyết định xem xét thẩm định tại chỗ và đã đến Tòa án cung cấp lời khai. Tòa án thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt. Tiến hành xác minh tại tổ G, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh là địa chỉ theo giấy đăng ký kinh doanh được thay đổi thứ 4 lần ngày 17/4/2023 thì được biết trước đây Công ty TNHH MTV D có văn phòng tại tổ G, khu D, phường T. Nay ngôi nhà mà Công ty D làm văn phòng đã bán cho chủ mới. Công ty D đã chuyển đi nơi khác không biết ở đâu. Bị đơn đã thay đổi địa chỉ hoạt động công ty gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi đặt trụ sở mới. Theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được coi là trường hợp cố tình che giấu địa chỉ. Bị đơn Công ty D đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Công ty D theo thủ tục chung.

[1.3] Về việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện:

việc nguyên đơn bổ sung yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được Tòa án chấp nhận là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả tiền gốc và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng:

[2.1] Xét về hình thức và nội dung hợp đồng thì thấy:

Hợp đồng cho vay số 68/2020/HĐTD/PVB-CNQN ngày 16/07/2020 và khế ước nhận nợ số LD2019893243 ngày 16/7/2020 được ký giữa Ngân hàng TMCP Đ và Công ty TNHH Một thành viên D. Theo Hợp đồng cho vay số 68/2020/HĐTD/PVB-CNQN ngày 16/07/2020, P1 đã cấp hạn mức tín dụng cho Công ty D số tiền là 9.000.000.000₫ (chín tỷ đồng). Tại khế ước nhận nợ, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty D số tiền 8.900.000.000đ (tám tỷ chín trăm triệu đồng). Như vậy, hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn được ký trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, không trái đạo đức xã hội nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên thông qua các điều khoản đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

[2.2] Xét việc thực hiện hợp đồng:

Sau khi ký hợp đồng tín dụng, P1 đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, giải ngân số tiền cho vay theo khế ước nhận nợ cho Công ty D là 8.900.000.000đ (tám tỷ chín trăm triệu đồng). Công ty D đã nhận đủ số tiền vay, nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền nợ gốc và lãi theo đúng cam kết đã ký trong các khế ước nhận nợ. Tính đến ngày 17/7/2024, Công ty D còn nợ P1 số tiền tổng cộng là: 14.079.764.951 đồng, trong đó nợ gốc: 8.188.726.014 đồng, lãi trong hạn: 1.704.324.618 đồng, lãi quá hạn: 3.719.526.352 đồng, lãi chậm trả: 467.187.967 đồng.

Bị đơn thừa nhận số tiền nợ gốc như yêu cầu khởi kiện của ngân hàng. Tuy nhiên, do gặp khó khăn trong kinh doanh nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng.

Đến nay, bị đơn vẫn không thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, P1 khởi kiện yêu cầu Công ty D phải trả số tiền còn nợ nêu trên là có căn cứ, phù hợp với các Điều 463, 465, 466 Bộ luật Dân sự, nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn Công ty D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.

Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty D tại P1, Công ty D đã thế chấp các tài sản theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số 68/2020/HĐBĐ/PVB-CNQN ngày 16/7/2020, cụ thể: 01 xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CHJ0000898, số máy 01419K129712, biển số 14HC-023.55, chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085332 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020; 01 xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CFJ0000895, số máy 01419K129708, biển số 14HC-023.44, chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085330 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020; 01 xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CLJ0000902, số máy 01419K129346, biển số 14HC-024.49, chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085333 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020; 01 xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00COJ0000906, số máy 01419L135911, biển số 14HC-023.47, chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085329 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020; 01 xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CJJ0000900, số máy 01419K129348, biển số 14HC-024.54, Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085336 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020. Tất cả các xe trên tên chủ xe là: Công ty TNHH MTV D.

Xét thấy, hợp đồng thế chấp xe ô tô số 68/2020/HĐBĐ/PVB-CNQN ngày 16/7/2020 giữa P1 với Công ty D được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, không bị lừa dối; nội dung, hình thức hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Hà Nội; trình tự, thủ tục thế chấp đúng quy định tại các Điều 298, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 Bộ luật Dân sự; Luật các tổ chức tín dụng; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực.

Do việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng có quyền đòi nợ và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng về việc được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số tiền nợ khi bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

[4] Về chi phí tố tụng:

nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; quá trình xem xét thẩm định tại chỗ chi hết số tiền là 4.000.000 đồng. Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, nguyên đơn yêu cầu bị đơn chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do đó bị đơn là Công ty TNHH Một thành viên D phải chịu số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, số tiền này được chi trả cho Ngân hàng TMCP Đ là bên đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

[5] Về án phí:

Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật. Công ty TNHH Một thành viên D phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào khoản 3 Điều 40, Điều 319, Điều 351, Điều 357, Điều 323, Điều 303, Điều 385, Điều 401, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 01/2019 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về áp dụng lãi suất; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính Phủ; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ.

    Buộc Công ty TNHH Một thành viên D phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng số 68/2020/HĐTD/PVB-CNQN ngày 16/07/2020 tính đến ngày 17/7/2024 là: 14.079.764.951đ (mười bốn tỷ, không trăm bảy mươi chín triệu, bảy trăm sáu mươi bốn nghìn, chín trăm năm mươi mốt đồng); trong đó: nợ gốc là 8.188.726.014đ (tám tỷ, một trăm tám mươi tám triệu, bảy trăm hai mươi sáu nghìn, không trăm mười bốn đồng); nợ lãi trong hạn: 1.704.324.618đ (một tỷ, bảy trăm linh bốn triệu, ba trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm mười tám đồng); lãi quá hạn: 3.719.526.352đ (ba tỷ, bảy trăm mười chín triệu, năm trăm hai mươi sáu nghìn, ba trăm năm mươi hai đồng); lãi chậm trả: 467.187.967đ (bốn trăm sáu mươi bảy triệu, một trăm tám mươi bảy nghìn, chín trăm sáu mươi bảy đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/7/2024) cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH Một thành viên D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng số 68/2020/HĐTD/PVB-CNQN ngày 16/07/2020 giữa Ngân hàng TMCP ĐCông ty TNHH Một thành viên D nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

    Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng thì lãi suất mà Công ty TNHH Một thành viên D phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng.

    Trường hợp Công ty TNHH Một thành viên D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là 01 xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CHJ0000898, số máy 01419K129712, biển số 14HC-023.55, chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085332 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020; 01 xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CFJ0000895, số máy 01419K129708, biển số 14HC-023.44, chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085330 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020; 01 xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CLJ0000902, số máy 01419K129346, biển số 14HC-024.49, chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085333 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020; 01 xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00COJ0000906, số máy 01419L135911, biển số 14HC-023.47, chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085329 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020; 01 xe ô tô tải tự đổ, nhãn hiệu GUERTE, số loại GT3600, số khung 00CJJ0000900, số máy 01419K129348, biển số 14HC-024.54, Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 085336 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 14/07/2020. Tất cả các xe trên tên chủ xe là: Công ty TNHH MTV D; theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số 68/2020/HĐBĐ/PVB-CNQN ngày 16/7/2020 giữa Ngân hàng TMCP ĐCông ty TNHH Một thành viên D.

    Trong trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì Công ty TNHH Một thành viên D còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ chưa được thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản tiền vay.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH Một thành viên D phải chịu 4.000.000đ (bốn triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Buộc Công ty TNHH Một thành viên D phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng TMCP Đ đã chi trả.
  3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH Một thành viên D phải nộp 122.080.000đ (một trăm hai mươi hai triệu, không trăm tám mươi nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

    Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm án phí còn lại là 60.007.000₫ (sáu mươi triệu, không trăm linh bảy nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000112 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty TNHH Một thành viên D vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hạ Long;
  • - Chi cục THADS TP Hạ Long;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/KDTM-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp xe ô tô

  • Số bản án: 10/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp xe ô tô
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng ĐC - Công ty TĐ - hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger