TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST Ngày 17 tháng 4 năm 2024 “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
---
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng, ông Tẩn A Sếnh
Thư ký phiên tòa: Ông Hờ A Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Trang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Phàn Thị S, sinh năm: 2000 – Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt
Nơi đăng ký HKTT: bản Ngài Chồ, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu;
Nơi ở hiện nay: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Điện Biên.
- Bị đơn: anh Lý A L, sinh năm 1995 - vắng mặt lần 2.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: bản Ngài Chồ, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Phàn Thị S trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và anh Lý A L có đăng ký kết hôn số 04 ngày 03/03/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2020 chúng tôi sống ly thân do thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã trong đời sống hàng ngày. Hiện không còn quan tâm đến nhau, hai vợ chồng được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không thay đổi được. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh L;
Về con chung: Vợ, chồng tôi có một chung là cháu: Lý Đức D – sinh ngày 03/3/2018. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được chăm sóc, giáo dục cháu D cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi không yêu cầu anh Lý A L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Vợ, chồng tôi không có tài sản gì chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Lý A L: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án và đơn khởi kiện của chị Phàn Thị S (bản phô tô); Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa cho anh Lý A L nhưng anh không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án đã xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị S và anh L tại địa phương. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và niêm yết tại chính quyền địa phương, tuy nhiên anh Lý A L không có mặt tại Tòa án và không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án, anh L đã vắng mặt không có lý do tại phiên tòa xét xử lần thứ nhất, tại phiên tòa lần thứ hai bị đơn anh Lý A L vẫn vắng mặt không có lý do. Nên Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện VKSND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Về thủ tục Tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn chị Phàn Thị S đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; anh Lý A L chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: chị S và anh Lý A L kết hôn hợp pháp, sau khi kết hôn thì thường xuyên xảy ra cãi vã trong đời sống hàng ngày không còn chăm sóc quan tâm đến nhau nên mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Phàn Thị S, tuyên xử cho chị S được ly hôn với anh Lý A L.
Về con chung: chị Phàn Thị S và anh Lý A L có một con chung là cháu Lý Đức D – sinh ngày 03/3/2018. Khi ly hôn chị S có nguyện vọng được chăm sóc, giáo dục cháu D cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị S không yêu cầu anh Lý A L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các quy định tại Điều 58, Điều 69, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Giao cháu D cho mẹ là chị Phàn Thị S chăm sóc, giáo dục, anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị S, anh L không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Phàn Thị S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về thủ tục thụ lý yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: Chị Phàn Thị S nộp đơn khởi kiện về việc: “Ly hôn, nuôi con chung,”, tại Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đối với anh Lý A L; địa chỉ: xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu. Chị S có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị Phàn Thị S là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 11/01/2024 Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ đã thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Phàn Thị S, theo khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình và Điều 195 BLTTDS.
- - Về thẩm quyền giải quyết: Ly hôn, nuôi con chung, giữa chị Phàn Thị S và anh Lý A L đều cư trú tại bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
- - Bị đơn Anh Lý A L được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn chị Phàn Thị S vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: chị S và anh L kết hôn hợp pháp, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân tại Ủy ban nhân dân xã N, xác minh tại nơi sinh sống của anh L, lấy lời khai của bố đẻ, phó trưởng bản Ngài Chồ xác nhận: chị Phàn Thị S và anh Lý A L có mâu thuẫn và đang làm thủ tục ly hôn tại Tòa án, chị S đã ly thân và không ở cùng anh Lý A L. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định việc hai vợ chồng không còn hạnh phúc, có mâu thuẫn là đúng. Xét tình trạng thực tế giữa hai vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định cả hai anh chị đã vi phạm nghĩa vụ của vợ, chồng, dẫn đến không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Do đó, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị S giải quyết cho chị Phàn Thị S ly hôn với anh Lý A L.
Về con chung: chị Phàn Thị S và anh Lý A L có một con chung. Xét nguyện vọng của nguyên đơn chị S nên giao cháu D cho mẹ là chị S chăm sóc, giáo dục. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị S, anh L không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập xem xét. Căn cứ các quy định tại điều 58, điều 69, điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xem xét về con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện VKS huyện Sìn Hồ tại phiên Tòa là có cơ sở pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về Án phí: Chị Phàn Thị S là người dân tộc thiểu số có nơi thường trú tại bản Ngài Chồ, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu thuộc khu vực III là xã đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên chị Phàn Thị S được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 60, Điều 69, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 5; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 238; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phàn Thị S. Về quan hệ hôn nhân chị Phàn Thị S được ly hôn với anh Lý A L.
- Về con chung: Giao cháu Lý Đức D – sinh ngày 03/3/2018 cho chị Phàn Thị S chăm sóc, giáo dục. Anh Lý A L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị Phàn Thị S và anh Lý A L không có ý kiến hay văn bản yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập xem xét.
Các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật hôn nhân và Gia đình.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phàn Thị S, anh Lý A L không đề nghị nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí: chị Phàn Thị S được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: chị Phàn Thị S, anh Lý A L vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tuấn |
Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phàn Thị Sẳm ly hôn với Lý A Lành
