|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 20/2024/HSST Ngày: 16/5/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Nhật Chuyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Long - Ông Nguyễn Tấn Thành
Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa: Ông Phan Quốc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân (TAND) thị xã S, tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần Trụ sở Nhà tạm giữ thị xã S, tỉnh Phú Yên. TAND thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
1/. Trần Thanh S (tên gọi khác: “không có”), sinh năm 2004 tại T, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CMND: [...]; Nơi cấp: Công an tỉnh P; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1981 và bà Trần Thị H, sinh năm 1982; Em ruột 01 người; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 15/7/2023, bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “không trả lại tài sản cho người khác do vay, mượn, thuê tài sản của người khác” số tiền 2.500.000 đồng. Chấp hành nộp phạt vào ngày 25/01/2024.
Bị cáo Trần Thanh S bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S từ ngày 13/12/2023 đến nay. Bị cáo bị tạm giam có mặt.
2/. La Mo Thị B (tên gọi khác: “Không có”), sinh năm 1999 tại huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...] cấp ngày 10/10/2022; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: không biết chữ; Con ông không xác định, con bà La Mo Thị L, sinh năm 1978; Em ruột 01 người; Chồng tên La O H1, sinh năm 1996; Con 02 người, sinh năm 2015 và 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà
Bị hại: Ông Phạm Xuân S1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- V/c ông Huỳnh Thanh N, sinh năm 1987 và bà Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
- Võ Anh T2, sinh năm 1992. Địa chỉ: KP . V, P.X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
- Phạm Minh T3, sinh năm 1989. Địa chỉ: KP . L, P.X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
Người làm chứng:
- Nguyễn Thị Kim T4, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh S và La Mo Thị B có quan hệ tình cảm yêu đương nên vào ngày 03/11/2022 S và B cùng bàn bàn bạc thuê xe mô tô để có phương tiện đi làm thuê chung. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, B đến cửa hàng cầm đồ “Quang Phụng” của ông Phạm Xuân S1 tại số C P thuộc khu phố L, phường X, thị xã S thuê xe mô tô. Tại đây, B gặp chị Nguyễn Thị Kim T4 (là em dâu của S1) hỏi thuê xe mô tô, do ông S1 không có ở cửa hàng nên T4 gọi điện thoại cho S1 hỏi việc cho B thuê xe thì S1 đồng ý cho B thuê xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 78D1-270.71. Do B không viết được nên T4 trực tiếp làm hợp đồng thuê xe với B nội dung thỏa thuận thời gian thuê xe mô tô 78D1-270.71 là 05 ngày từ ngày 03/11/2022 đến ngày 08/11/2022 thì B sẽ trả lại xe mô tô và tiền thuê xe một ngày 100.000 đồng và để lại căn cước công dân của B để đảm bảo cho việc thực hiện việc thuê xe. Sau khi thuê xe, B cùng với S sử dụng xe mô tô này để đi làm thuê ở nhiều nơi. Đến thời hạn thì S1 liên lạc yêu cầu B trả xe và tiền thuê xe nhưng B và S không trả cho S1. Sau đó, B và S đến huyện S, tỉnh Phú Yên làm thuê chặt mía cho vợ chồng ông Huỳnh Thanh N, bà Nguyễn Thị Bích T1 trú tại thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Đến ngày 14/3/2023, do nghe thông tin Công an đang quyết định truy tìm nên S bàn bạc với B cầm cố chiếc xe mô tô 78D1-270.71 cho vợ chồng ông N, bà T1 để trả nợ thì B đồng ý. Ngày 14/3/2023, S và B gặp vợ chồng ông N, bà T1, S nói xe mô tô biển kiểm soát 78D1-270.71 là của mẹ ruột của S, không có giấy tờ xe Sang cầm cố cho vợ chồng ông N, bà T1 trong thời gian 01 tháng với số tiền 8.000.000 đồng rồi S sẽ trả lại 8.000.000 đồng và lấy lại xe thì ông N, bà T1 đồng ý rồi cùng nhau ký tên “Giấy ứng tiền” ngày 14/3/2023. Sau đó B và S không đến chuộc lại xe như đã thỏa thuận với vợ chồng ông N, bà T1 mà bỏ trốn. Đến ngày 19/6/2023 B bị Công an phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai kiểm tra phát hiện và thông báo cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã S làm việc. Đến ngày 13/12/2023, S bị Công an thị xã S phát hiện làm việc. Trần Thanh S và La Mo Thị B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá số 54/KL-HĐĐG ngày 09/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã S kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát số 78D1-270.71, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, số khung 73240JY185139, số máy E3X9E500491 tại thời điểm ngày 14/3/2023 có giá trị là 11.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Không.
Phần dân sự: Bị cáo Trần Thanh S, La Mo Thị B đã trả tiền thuê xe mô tô 78D1-270.71 cho anh Phạm Xuân S1 số tiền 6.000.000 đồng; trả lại cho vợ chồng ông Huỳnh Thanh N, bà Nguyễn Thị Bích T1 số tiền 8.000.000 đồng. Ông Phạm Xuân S1 vợ chồng ông Huỳnh Thanh N, bà Nguyễn Thị Bích T1 không yêu cầu La Mo Thị B và Trần Thanh S bồi thường gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSSC ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Trần Thanh S, La Mo Thị B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thanh S, La Mo Thị B thừa nhận chính bị cáo Trần Thanh S yêu cầu La Mo Thị B thuê xe mô tô biển kiểm soát 78D1 - 270.71 của ông Phạm Xuân S1, sau đó đem xe mô tô 78D1 - 270.71 cầm cố cho vợ chồng ông Huỳnh Thanh N, bà Nguyễn Thị Bích T1 số tiền 8.000.000 đồng rồi bỏ trốn. Trần Thanh S và La Mo Thị B đã chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 78D1-270.71 của ông Phạm Xuân S1 trị giá 11.000.000 đồng và thừa nhận bản Cáo trạng số 18/CT-VKSSC ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Trần Thanh S, La Mo Thị B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự là đúng, không oan, sai gì cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu thực hành quyền công tố tại phiên tòa khẳng định bản Cáo trạng số 18/CT-VKSSC ngày 05/4/2024 truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSSC ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu. Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh S, La Mo Thị B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo Trần Thanh S từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 13/12/2023. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo La M Buổi từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Giao bị cáo La Mo Thị B cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Yên giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Không có nên đề nghị HĐXX không xét
Phần dân sự: Bị hại Phạm Xuân S1 đã nhận lại xe mô tô 78D1-270.71 và nhận số tiền 6.000.000 đồng từ các bị cáo Trần Thanh S, La Mo Thị B và bị hại Phạm Xuân S1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Huỳnh Thanh N, bà Nguyễn Thị Bích T1 đã nhận lại số tiền 8.000.000 đồng và không yêu cầu Trần Thanh S, La Mo Thị B bồi thường gì khác. Nên đề nghị HĐXX không xét.
Đối với vợ chồng ông Huỳnh Thanh N, bà Nguyễn Thị Bích T1 có nhận cầm cố xe mô tô biển kiểm soát 78D1- 270.71 từ Trần Thanh S và La Mo Thị B nhưng vợ chồng ông N, bà T1 không biết xe mô tô là do S, B phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thị xã S đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Quá trình điều tra đã có lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Việc vắng mặt của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.
- Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thanh S, La Mo Thị B tại phiên tòa sơ thẩm và tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm phạm tội, tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03/11/2022 tại cửa hàng cầm đồ "Q" của ông Phạm Xuân S1 tại số C P thuộc khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Trần Thanh S bàn bạc, yêu cầu La Mo Thị B thuê xe mô tô biển kiểm soát 78D1 - 270.71 của ông Phạm Xuân S1, sau đó đem xe mô tô 78D1 - 270.71 cầm cố cho vợ chồng ông Huỳnh Thanh N, bà Nguyễn Thị Bích T1 số tiền 8.000.000 đồng rồi bỏ trốn. Trần Thanh S và La Mo Thị B đã chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 78D1- 270.71 của ông Phạm Xuân S1 trị giá 11.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thanh S, La Mo Thị B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS. Do đó, quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSSC ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai gì cho bị cáo.
- Xét tính chất, hậu quả, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đối với bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thanh S, La Mo Thị B là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình nhưng vì muốn có tiền trả nợ, tiêu xài mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, ảnh đến an ninh trật tự tại địa phương.
Bị cáo Trần Thanh S bàn bạc và yêu cầu bị cáo La Mo Thị B đi thuê xe và là người nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại và được sự đồng ý của bị cáo La Mo Thị B. Điều đó cho thấy đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Trần Thanh S có nhân thân xấu là người yêu cầu bị cáo B đi thuê xe và là người nảy sinh và đề xuất chiếm đoạt tài sản của bị hại nên hành vi của bị cáo S là nguy hiểm hơn bị cáo B. Nên nhất thiết phải cách ly bị cáo S ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính chất giao dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này cho xã hội. Bị cáo La Mo Thị B là người nghe và làm theo yêu cầu của bị cáo S, khi S đề xuất việc cầm cố chiếc xe thuê của bị hại ông Phạm Xuân S1 để chiếm đoạt tài sản thì bị cáo đồng ý, nhưng bị cáo B là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn không biết chữ, nên nhận thức về pháp luật của bị cáo có phần hạn chế do vậy hành vi của bị cáo ít nguy hiểm hơn bị cáo S, nên cần áp dụng hình phạt nhẹ hơn bị cáo S; bị cáo La Mo Thị B có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vẫn đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS nên áp dụng cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người tốt và có ích cho xã hội.
- Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Không có nên HĐXX không xét
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Xuân S1 đã nhận lại xe mô tô 78D1-270.71, nhận số tiền 6.000.000 đồng từ các bị cáo Trần Thanh S, La Mo Thị B và bị hại Phạm Xuân S1 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Huỳnh Thanh N, bà Nguyễn Thị Bích T1 đã nhận số tiền 8.000.000 đồng và không yêu cầu Trần Thanh S, La Mo Thị B bồi thường gì khác. Nên HĐXX không xét.
- Đối với vợ chồng ông Huỳnh Thanh N, bà Nguyễn Thị Bích T1 có cầm cố xe mô tô biển kiểm soát 78D1- 270.71 từ Trần Thanh S, La Mo Thị B nhưng vợ chồng ông N, bà T1 không biết xe mô tô là do S, B phạm tội mà có nên không xem xét xử lý là có căn cứ nên HĐXX không xét.
- Về án phí: Bị cáo Trần Thanh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. riêng bị cáo La Mo Thị B là đồng bào dân tộc thiểu số hiện ở xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Yên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thanh S.
- - Điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo La Mo Thị B.
- - Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự
- - Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thanh S, La Mo Thị B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh S 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 13/12/2023.
Xử phạt: Bị cáo La Mo Thị B 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, tỉnh Phú Yên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì có thể bị Tòa án quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: HĐXX không xét.
4. Về vật chứng vụ án: HĐXX không xét
5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo La Mo Thị B được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ Toạ phiên toà Lò Nhật Chuyên |
Bản án số 20/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 20/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Thanh S và đồng phạm
