Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ QUÝ

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày: 15-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ - TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Thạo

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Tạ Ngọc Viên

+ Ông Nguyễn Thanh Liểm

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quý.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lạc – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh ngày 28/7/2007 tại tỉnh Bình Thuận.

Trú tại: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Thuận

Nghề nghiệp: Làm biển; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 6/12; cha: Trần Văn C; mẹ: Đặng Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không có.

- Nhân thân:

  • + Ngày 28/7/2022, bị chủ tịch UBND huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với hành vi Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • + Ngày 22/7/2022 và ngày 04/10/2022, bị Trưởng Công an xã L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với hành vi “Tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng”.
  • + Ngày 14/10/2022, bị Chủ tịch UBND xã L ra quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, do có hành vi “Tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng”.
  • + Ngày 01/3/2023, bị trưởng Công an xã L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn T: Bà Đặng Thị T2, sinh năm 1989 (Có mặt)

Trú tại: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T: Ông Nguyễn Thiện T3, sinh năm: 1988 - Nơi công tác: Cán bộ Hội nông dân xã L (Có mặt)

Bị hại: Bà Lê Thị Mỹ L - Sinh năm: 1996 (Vắng mặt)

Trú tại: Số E, ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.

Nơi ở hiện nay: 3 Đường số H, KDC D, xã B, huyện B, TP ..

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Thùy T4 - Sinh năm: 1994 (Có mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ L1 – Sinh năm: 1987 (Vắng mặt)

Cùng trú tại: Thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

  1. Ông Phạm Văn T5 – Sinh năm: 1968 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

* Người làm chứng: Bà Lê Thị Xuân Y - Sinh năm: 1996 (Vắng mặt)

Trú tại: Tổ E, khu phố G, phường L, TP ., tỉnh Bình Thuận.

Nơi ở hiện nay: Số G, T, phường T, Quận G, TP . Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 02/3/2024, bị cáo Trần Văn T sau khi ngủ dậy tại thuyền của ông Trương Văn H ở khu vực Cảng P. Bị cáo T đi đò vào bờ để chơi thì xe hết xăng. Lúc này, bị cáo nhìn thấy xe của chị Lê Thị Thùy T4 có chìa khoá có cắm sẵn trên xe nên bị cáo đi tới mượn xe rồi điều khiển xe chạy đi đến Cột cờ chủ quyền để chơi. Khi đi đến Cột cờ bị cáo thấy có một xe mô tô hai bánh hiệu Cuxi màu cam và một xe mô tô hai bánh màu đen, hiệu Vision, biển kiểm soát 86B6-321.91 đang dựng, trên xe có treo một cái giỏ xách được đan bằng cói màu trắng.

Bị cáo nhìn thấy chị Lê Thị Mỹ L và chị Lê Thị Xuân Y đang chụp hình nên nảy sinh ý định chiếm đoạt cái giỏ xách trên. Sau đó, bị cáo điều khiển xe chạy lại sát vị trí chiếc xe biển kiểm soát 86B6-32191 và dùng tay trái lấy chiếc giỏ xách bỏ vào giữa ba ga xe của bị cáo rồi điều khiển xe chạy ra đường 27 tháng 4 và rẽ phải chạy về hướng khu vực G. Khi lấy giỏ xách đi thì Chị Y và Chị L đã nhìn thấy rồi lấy xe đuổi theo sau nhưng không kịp. Bị cáo T chạy được khoảng 400 mét thì dừng xe lại kiểm tra bên trong giỏ xách có một cái ví da màu xanh lá cây, bên trong ví da có 01 ngăn đựng số tiền 1.330.000 đồng, ngăn còn lại đựng 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng và 01 nhẫn bạc bằng kim loại. Bị cáo T lấy hết số tiền 1.330.000 đồng bỏ vào túi quần bên phải phía trước, hai chiếc nhẫn bị cáo lấy bỏ vào túi quần phía sau bên trái đang mặc. Còn lại ví da màu xanh thì bỏ vào bên trong giỏ xách và ném vào sát lề đường bên phải theo hướng bị cáo chạy đi. Sau đó, bị cáo điều khiển xe về lại Cảng P. Khi đến cổng C1 thì vào tiệm tạp hóa của gia đình chị Nguyễn Thị Thanh N mua 02 thẻ cào Vinaphone, 01 lon nước ngọt, 01 gói thuốc lá với tổng số tiền là 224.000 đồng, nhưng bị cáo T đưa luôn số tiền là 230.000 đồng. Mua đồ xong, bị cáo điều khiển xe về dựng lại vị trí ban đầu để trả xe rồi gọi lái đò là ông Phạm Văn T5 chở ra thuyền ông H lại, trả tiền phí đi đò 10.000 đồng. Sau khi bị mất tài sản, chị Lê Thị Mỹ L đến Công an huyện để trình báo.

Theo Quyết định trưng cầu giám định số 38 ngày 22/3/2024 và Kết luận giám định số 2063/KL-KTHS, ngày 09/4/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP . Bộ C2, kết luận: 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, đính hạt màu trắng, mặt trong nhẫn có chữ “VT KAN”, tổng khối lượng: 1,4629gam, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au). Hàm lượng Vàng: 67,83%; 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, đính nhiều hạt nhỏ màu trắng, tổng khối lượng: 1,7223gam, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là B (Ag). Hàm lượng bạc: 96,62%

Theo Kết luận định giá tài sản số 05 ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định: 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, có khối lượng: 1,4629gam tương đương 02 phân 07 ly tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.161.000 đồng và 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, có khối lượng: 1,7223gam tương đương 04 phân 06 ly tại thời điểm bị chiếm đoạt là 46.000 đồng. Tổng giá trị tài sản sau khi định giá là: 1.207.000 đồng.

* Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra vụ án đã tiến hành thu giữ:

- Tạm giữ trên người của bị cáo Trần Văn T gồm: Số tiền 1.094.000 đồng; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, trên chiếc nhẫn có đính viên đá trong suốt; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, trên nhẫn có đính nhiều viên đá trong suốt nhỏ.

- Bị cáo Trần Văn T giao nộp: 01 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng đã qua sử dụng; 01 áo thun trắng ngắn tay; 01 (một) chiếc quần Jeans lửng màu xám bạc; 01 (một) đôi dép xốp màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng.

- Lê Thị Thùy T4 giao nộp 01 chiếc xe mô tô hai bánh hiệu Yamaha Sirius màu vàng đen, biển kiểm sát 86C1-24202.

- Lê Thị Mỹ L giao nộp 01 (một) cái giỏ xách hai quai được đan bằng cói màu trắng và 01 (một) cái ví da màu xanh lá.

- Bà Nguyễn Thị Thanh N giao nộp số tiền 230.000 đồng.

- Phạm Văn T5 giao nộp số tiền 10.000 đồng.

* Xử lý vật chứng:

Ngày 03/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 73, xử lý bằng hình thức: Trao trả cho bị hại Lê Thị Mỹ L: Số tiền 1.090.000 đồng; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, trên chiếc nhẫn có đính viên đá trong suốt; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, trên nhẫn có đính nhiều viên đá trong suốt nhỏ; 01 (một) cái giỏ xách hai quai được đan bằng cói màu trắng và 01 cái ví da màu xanh lá. Trao trả Nguyễn Thị Thanh N số tiền 230.000 đồng.

Ngày 24/6/2026, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 16 trao trả cho:

Lê Thị Thùy T4 01 chiếc xe mô tô hai bánh hiệu Yamaha Sirius màu vàng đen, biển kiểm sát 86C1-242.02;

Trả lại cho Trần Văn T gồm: 01 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng đã qua sử dụng; 01 áo thun trắng ngắn tay; 01 (một) chiếc quần Jeans lửng màu xám bạc; 01 (một) đôi dép xốp màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng và số tiền 4.000 đồng.

Trao trả cho Phạm Văn T5 số tiền 10.000 đồng.

Riêng số vật chứng là: 01 (một) đĩa DVD lưu file video hỏi cung bị can Trần Văn T và 03 (ba) đĩa DVD có chứa nội dung liên quan đến hình ảnh của Trần Văn T được ghi hình tại khu vực Cột cờ huyện P vào ngày 02/3/2024 được đánh dấu bút lục đưa vào hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Lê Thị Mỹ L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt vào ngày 02/3/2024 và không yêu cầu gì khác.

Tại Bản Cáo trạng số 11/CT-VKSPQ, ngày 13 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.

Về dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xét.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội gây thiệt hại không lớn, khắc phục hậu quả gây nên. Đồng thời áp dụng các quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 02/3/2024, tại khu vực cột cờ chủ quyền, bị cáo Trần Văn T lợi dụng lúc chị Lê Thị Mỹ L đang chụp hình đã chiếm đoạt giỏ xách của chị L, bên trong có 1.330.000 đồng, 01 chiếc nhẫn vàng và 01 chiếc nhẫn bạc bên trong 01 cái ví da màu nâu được bỏ trong giỏ xách. Tổng giá trị sản bị cáo chiếm đoạt là 2.537.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Bị cáo phạm tội lúc chưa đủ 18 tuổi nên năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức còn hạn chế. Nhưng, do lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện tội phạm. Bị cáo thực hiện hành vi trái pháp luật của mình với lỗi cố ý, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã từng bị xử lý hành chính nhiều lần, nhưng không lấy đó làm bài học để sữa chữa, làm ăn lương thiện mà cố ý phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân xấu. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội gây thiệt hại không lớn, khắc phục hậu quả gây nên. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra, bị cáo phạm tội lúc chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định tại chương XII của Bộ luật hình sự khi xử lý. Từ những căn cứ trên, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình bị cáo quản lý, giám sát bị cáo cũng đủ để bị cáo tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng của vụ án: Đã xử lý xong.

[7] Đối với chị T4, chị L và anh T5 được bị cáo đưa tiền nhưng không biết được đây là tiền do trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện P không xử lý là đúng quy định pháp luật.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 65 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) .

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười Hai) tháng tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Bình Thuận giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
  4. Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/8/2024); bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Phú Quý;
  • - Công an huyện Phú Quý;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Quý;
  • - Bị cáo, bị hại, NCQL,NVLQ;
  • - Lưu: V.P, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Minh Thạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ - TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger