TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 10/2024/DSST Ngày 15/7/2024 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”, | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Châu
2. Bà Nông Thị Giới
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Thiên Hùng, cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Bình Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hùng Phong – Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa:
Trong ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST – DSST, ngày 23 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXX - ST ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
Hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu phố B, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Văn T là ông Dương Tất P, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ F, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước (Có mặt).
Bị đơn: 1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
2. Ông Lê Văn H1, sinh năm 1972 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ C, khu phố X, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn H1 là ông Lê Phước Ý, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số E, khu phố H, phường H, Thành phố T, tỉnh Tây Ninh (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Ngọc K, sinh năm 1977
Hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu phố B, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
1
(Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản lời khai tại Tòa, cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn ông Đặng Văn T và người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Văn T là ông Dương Tất P trình bày: Tháng 4 năm 2022 do quen biết làm ăn buôn bán với nhau, vợ chồng ông Đặng Văn T (tên gọi khác là N) và bà Trần Thị Ngọc K có cho vợ chồng ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị H vay tổng cộng số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) để ông H1, bà H mua xe ô tô và mua biển số xe ô tô. Tin tưởng vợ chồng ông H1, bà H là bạn làm ăn với nhau lâu năm nên ông T đưa tiền mặt cho ông H1, bà H mà không viết giấy tờ gì, ông H1, bà H hứa trong thời gian 2 tuần trả nợ, đến giữa tháng 5/2022 sẽ trả hết số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) cho ông T, bà K. Đến ngày 19/5/2022 ông T yêu cầu vợ chồng ông H1, bà H trả nợ cho ông T, bà K thì ông H1, bà H trình bày là đang khó khăn, chưa gom đủ tiền nên xin nợ lại 2 tháng sau (ngày 19/5/2022 đến ngày 20/7/2022) mới trả nợ cho ông T và bà K. Đến ngày 20/7/2022 ông T, bà K yêu cầu ông H1, bà H trả nợ thì ông H1, bà H vẫn lấy lý do xin nợ lại. Sau nhiều lần yêu cầu ông H1, bà H trả nợ nhưng cố tình không trả, đến ngày 11/10/2022 bà H xin khất nợ, viết giấy vay nợ lại hứa là 60 ngày sau sẽ trả nợ cho ông T, bà K. Đến hẹn ông H1, bà H không trả tiền nên ông T, bà K đã nhiều lần yêu cầu trả nợ thì ông H1, bà H đã trả cho ông T, bà K được 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) số tiền còn nợ lại 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng). Nay ông T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K số tiền 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng). Buộc ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lãi suất quá hạn theo mức lãi suất Ngân hàng N1 quy định cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K tính từ ngày 01/10/2023 cho đến ngày 01/4/2024, là số tiền 1.960.000.000 đồng x 1,6%/tháng x 6 tháng = 188.160.000 đồng. Buộc ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K theo mức lãi suất quá hạn của Ngân hàng N1 quy định, tính từ ngày 02/4/2024 cho đến khi trả xong tất cả các khoản tiền cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày ý kiến: Bà H xin vắng mặt trong quá trình tố tụng. Nhưng trong bản tự khai (Bút lục số 38,39,40) của bà H trình bày: Tôi đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước về việc ông Đặng Văn T khởi kiện bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn H1. Bà H có ý kiến như sau: Bà Nguyễn Thị H với ông Lê Văn H1 kết hôn ngày 19/05/2017 đến tháng 01/2022, đời sống hôn nhân giữa bà H với ông H1 mâu thuẫn trầm trọng nên bà H với ông H1 đã ly thân. Bà H dọn về sinh sống tại nhà ở địa chỉ tổ E, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước và mở vựa ve chai. Từ tháng 01/2022, bà H với ông H1 không còn liên quan tiền bạc gì với nhau nữa. Đến tháng 5/2022, ông H1 khởi kiện ly hôn với bà Nguyễn Thị H tại Tòa án Nhân dân thị xã Bình Long và bà H và
2
ông H1 đã ly hôn theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và thuận tình ly hôn số: 85/2022/QĐCNTTLH ngày 20/6/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Từ tháng 01/2022 bà H với ông H1 đã ly thân. Về số tiền bà H mượn của ông T vào ngày 11/10/2022 tại nhà của bà H tại xã T, là khi bà H đã ly hôn với ông Lê Văn H1, bà H xác định có mượn của ông T số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng), thời hạn mượn là 60 ngày kể từ ngày 11/10/2022, ông T không tính lãi, do hỗ trợ bà H làm ăn. Lý do mượn tiền là do bà H kẹt tiền làm vốn lưu động mua bán ve chai và dự định mua lại 02 chiếc xe của ông H1 (chồng cũ) theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 93 009581 được Phòng Cảnh sát giao thông thị xã B cấp ngày 17/12/2021 với biển số xe: 93H – 018.99 và Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 93 011352 được Phòng Cảnh sát giao thông thị xã B cấp ngày 13/01/2022 với biển số xe: 93H – 020.31. Để làm tin, bà H có ghi Giấy mượn tiền đề ngày 11/10/2022, toàn bộ chữ viết là của bà Nguyễn Thị H, bà H có ký tên, ghi họ tên và lăn tay trên Giấy mượn tiền. Tuy nhiên, sau khi bà H mượn tiền thì ông H1 đổi ý không bán 02 chiếc xe nêu trên cho bà H nên toàn bộ tiền bà H mượn của ông T và bà K thì bà H đầu tư làm vốn kinh doanh ve chai. Do việc kinh doanh không thuận lợi, thua lỗ triền miên, bạn hàng giật tiền nên khi hết hạn 60 ngày kể từ ngày 11/10/2022 thì bà H có trả cho ông T được 40.000.000 đồng và hiện nay bà H còn nợ lại 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng). Bà Nguyễn Thị H đồng ý trả nợ cho ông T số tiền nêu trên. Bà Nguyễn Thị H không đồng ý trả tiển lãi cho ông T vì bà H chỉ mượn tiền, không có vay.
Bị đơn Lê Văn H1 và người đại diện theo ủy quyền của ông H1 là ông Lê Phước Ý trình bày: Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn T: Theo giấy mượn tiền ngày 11/10/2022 thì bà H ghi nơi mượn tiền là địa chỉ ở xã T còn ông H1 ở phường H và không có nội dung nào thể hiện ông H1 mượn tiền của ông T, đây là nội dung chứng minh ông H1 không liên quan đến việc bà H mượn tiền của ông Trung. Ngoài ra, theo đơn khởi kiện ngày 18/4/2024 và Giấy mượn tiền ngày 11/10/2022 do nguyên đơn cung cấp thì nguyên đơn cho rằng cho ông H1, bà H mượn tiền từ cuối tháng 4/2022 để mua xe ô tô và mua biển số xe ô tô là không chính xác. Bởi lẽ 02 chiếc xe của ông H1 biển số xe: 93H – 018.99 có Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 93 009581 được Phòng Cảnh sát giao thông thị xã B cấp ngày 17/12/2021 và biển số xe: 93H – 020.31 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 93 011352 được Phòng Cảnh sát giao thông thị xã B cấp ngày 13/01/2022 là tài sản riêng của ông H1 đã mua trước khi kết hôn với bà H bằng hình thức giấy tay, sau đó hợp đồng ủy quyền rồi theo yêu cầu của Nhà nước thì mới đăng ký công chứng và được cấp 02 Giấy xe nêu trên. Ông H1 không có mượn tiền của ông T để mua 02 chiếc xe nêu trên nên ông T cho rằng ông H1 có mượn tiền của ông T thì ông T phải cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.
Bà Trần Thị Ngọc K trình bày: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K số tiền 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng).
3
Buộc ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lãi suất quá hạn theo mức lãi suất Ngân hàng N1 quy định cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K tính từ ngày 01/10/2023 cho đến ngày 01/4/2024. Sô tiền 188.160.000 đồng. Buộc ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K theo mức lãi suất quá hạn của Ngân hàng N1 quy định, tính từ ngày 02/4/2024 cho đến khi trả xong tất cả các khoản tiền.
Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn T. Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K số tiền 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng) tiền nợ vay. Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lãi suất theo mức lãi suất Ngân hàng Nhà nước quy định cho ông T và bà K 112.026.000 đồng. Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi cho ông T và bà K theo mức lãi suất của Ngân hàng N1 quy định, tính từ ngày 02/4/2024 cho đến khi trả xong tất cả các khoản tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của ông Đặng Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K số tiền 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng), buộc ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lãi suất quá hạn theo mức lãi suất Ngân hàng N1 quy định cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K sô tiền 188.160.000 đồng và buộc ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị H có vụ tiếp tục trả lãi cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K theo mức lãi suất quá hạn của Ngân hàng N1 quy định, tính từ ngày 02/4/2024 cho đến khi trả xong tất cả các khoản tiền.Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Ông Lê Văn H1 là bị đơn trong vụ án có địa chỉ và nơi cư trú tại tổ C, khu phố X, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước và bà Nguyễn Thị H là bị đơn trong vụ án có địa chỉ và nơi cư trú tại tổ E, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước; Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
4
- Bà Nguyễn Thị H là bị đơn trong vụ án, bà H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; Ông Lê Văn H1 là bị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa; Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn H1.
[2] Về nội dung:
Do quen biết làm ăn buôn bán với nhau, ngày 20/7/2022 bà Nguyễn Thị H vay của vợ chồng ông Đặng Văn T (tên thường gọi là N) và bà Trần Thị Ngọc K số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng), có viết giấy tay, không thỏa thuận tiền lãi, thời hạn vay là 60 ngày, bà H đã trả cho ông T, bà K được 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) số tiền còn nợ lại 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng) không trả. Nay ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K yêu cầu bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho ông T và bà K số tiền 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng) nợ vay và tiền lãi theo quy định của Ngân hàng N1 quy định (từ ngày 01/01/0/2023 đến 01/4/2024) là 112.026.000đ (Một trăm mười hai triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tiền lãi và yêu cầu bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K của số tiền 1.960.000.000₫ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, thời hạn trả lãi tiếp theo tính từ ngày 02/4/2024 cho đến khi trả xong tất cả các khoản tiền.
Tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn xin rút phần yêu cầu khởi kiện đối với ông Lê Văn H1 và xin thay đổi phần lãi quá hạn, yêu cầu bà H trả tiền lãi theo quy định của Ngân hàng N1.
Bà Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai (Bút lục số 38,39,40) bà H đồng ý trả nợ cho ông T và bà K số tiền 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng) tiền nợ vay, bà Nguyễn Thị H không đồng ý trả cho ông T, bà K các khoản tiền lãi vì bà H cho rằng chỉ mượn tiền, không có vay nên bà Nguyễn Thị H không đồng ý trà tiển lãi cho ông T và bà K.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
[3.1] Do quen biết làm ăn buôn bán với nhau, ngày 20/7/2022 bà Nguyễn Thị H vay của vợ chồng ông Đặng Văn T (tên thường gọi là N) và bà Trần Thị Ngọc K số tiền 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng), có viết giấy tay, không thỏa thuận tiền lãi, thời hạn vay là 60 ngày, bà H đã trả cho ông T, bà K được 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) số tiền còn nợ lại 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng) không trả. Bà H xác định có mượn của ông T và bà K số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng), có viết giấy tay, thời hạn vay là 60 ngày, bà H đã trả cho ông T, bà K được 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) số tiền còn lại bà H đồng ý trả nợ cho ông T và bà K nhưng do do làm ăn thua lỗ nên chưa có tiền trả nợ. Hội đồng xét xử xét thấy đến hạn trả nợ nhưng bà H không trả nợ cho ông T và bà K theo như cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều của Bộ luật dân sự. Nay ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K yêu cầu bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho ông
5
T và bà K số tiền 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng) nợ vay là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K số tiền 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng) số tiền nợ vay.
[3.2] Ông T và bà K yêu cầu bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho ông T và bà K tiền lãi theo quy định của Ngân hàng N1 quy định (từ ngày 01/01/0/2023 đến 01/4/2024) là 112.026.000đ (Một trăm mười hai triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng) và yêu cầu bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi của số tiền nợ vay 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng) cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K theo quy định của Ngân hàng N1 quy định. Bà H không đồng ý, bà H cho rằng vì là tiền mượn nên không trả lãi. Tuy nhiên trong thời gian mượn là 60 (từ ngày 20/7/2022 đến ngày 17/9/2022), hết thời hạn trên là đến hạn trả nợ nhưng bà H không trả cho ông T và bà K nên phải trả lãi cho ông T và bà K là phù hợp với quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự và ông T, bà K chỉ yêu cầu bà H trả lãi bắt đầu từ ngày 01/10/2022 là ông T tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K 112.026.000đ (Một trăm mười hai triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tiền lãi (từ ngày 01/01/0/2023 đến 01/4/2024); Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, thời hạn trả lãi tiếp theo tính từ ngày 02/4/2024 cho đến khi trả xong tất cả các khoản tiền.
[4] Tại phiên tòa đại diện của nguyên đơn xin rút phần yêu cầu khởi kiện đối với ông Lê Văn H1 về việc có nghĩa vụ trả nợ chung, Hội dồng xét xử đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn T đối với ông Lê Văn H1.
[5] Về án phí: Căn cứ theo theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn T được chấp nhận nên ông T không phải chịu án phí dân sự sơ thậm, trả lại cho ông Đặng Văn T 37.400.000₫ (Ba mươi bảy triệu đồng), số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002142 ngày 22/4/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Long; Bà Nguyễn Thị H chịu 73.445.200₫ (Bảy mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi bốn triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự; Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
6
2. Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K số tiền 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng) số tiền nợ vay.
3. Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K 112.026.000đ (Một trăm mười hai triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tiền lãi từ ngày 01/01/0/2023 đến 01/4/2024.
4. Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi cho ông Đặng Văn T và bà Trần Thị Ngọc K của số tiền 1.960.000.000đ (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu đồng) số tiền nợ vay, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, thời hạn trả lãi tiếp theo tính từ ngày 02/4/2024 cho đến khi trả xong tất cả các khoản tiền.
5. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút phần yêu cầu khởi kiện đối với ông Lê Văn H1 về việc có nghĩa vụ trả nợ chung. Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện đối với ông Lê Văn H1.
Án phí: Căn cứ theo theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bà Nguyễn Thị H chịu 73.445.200đ (Bảy mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi bốn triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Đặng Văn T 37.400.000₫ (Ba mươi bảy triệu đồng), số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002142 ngày 22/4/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Long.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
7
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Lê Đình Tùng |
Bản án số 10/2024/DSST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 10/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
