Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15 tháng 5 năm 2024

“Vụ án ly hôn giữa bà Đặng Thu H và

ông Phạm Anh T”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trương Hà Lê
  2. Ông Nguyễn Xuân Minh

Thư ký phiên toà: Ông Tô Việt Anh – Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Hạnh Ngân – Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 369/2023/TLST-HNGĐ ngày 10/11/2023 về việc “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/3/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Đặng Thu H, sinh năm 1986;

CCCD số [...] do Cục CSĐKQL cư trú và DLQG về dân cư, Bộ C cấp ngày 26/9/2016;

ĐKHKTT tại: Số B ngõ V, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội;

Có mặt tại phiên toà.

* Bị đơn: Ông Phạm Anh T, sinh năm 1987

CCCD số [...] do Cục C1 ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư, Bộ C cấp ngày 27/9/2016;

ĐKHKTT tại: Số B ngõ V, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội;

Hiện đang chấp hành án tại Đội 4 Phân trại số B, Trại giam V, Cục C2, Bộ C;

Địa chỉ: xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc;

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/9/2023, bản tự khai và những lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn bà Đặng Thu H trình bày:

Về tình cảm: Bà kết hôn với ông Phạm Anh T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận H, Thành phố Hà Nội ngày 09/12/2009. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cách sống, lối sống không phù hợp, thường xuyên xảy ra tranh cãi, ông T thường xuyên cờ bạc nợ nần, chủ nợ đến đòi nợ làm ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, cũng như kinh tế của gia đình. Đến đầu năm 2019, ông T vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên phạt 18 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản“ và tội “Đánh bạc“ (Theo bản án số 351/2020/HS-ST ngày 11/9/2020 của Tòa án nhân dân Thành phô Hà Nội). Hiện ông Phạm Anh T đang phải chấp hành án tại Trại giam V, Cục C2, Bộ C; Địa chỉ: xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.

Về con chung: Cả hai có 01 con chung là cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 11/3/2012. Hiện cháu Đ đang ở với bà H. Khi ly hôn bà H đề nghị được trực tiếp trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Đ, không yêu cầu ông T đóng góp nuôi con.

Về tài sản chung, nhà đất ở, công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2] Tại Bản tự khai ngày 14/3/2024, bị đơn ông Phạm Anh T trình bày:

Xác nhận thời gian, điều kiện kết hôn như bà H đã trình bày, xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do cách sống, lối sống không phù hợp. Năm 2019, ông T vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án phạt 18 năm tù. Việc Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án ly hôn giữa bà H và ông T, ông đồng ý, không có ý kiến gì. Bà H xin ly hôn với ông, ông đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông.

Về con chung: Ông T xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 11/3/2012. Hiện cháu Đ đang ở với bà H. Khi ly hôn ông T đồng ý để bà H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Đ với điều kiện bà H không đi bước nữa. Nếu bà H lấy chồng mới thì sẽ để ông bà nội nuôi cháu Đ hoặc ông sẽ làm thủ tục yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: ông T đề nghị tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ông T do ông đang phải chấp hành án.

Về tài sản chung, nhà đất ở chung, công nợ chung của vợ chồng: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết; Vợ chồng không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.

[3] Tại phiên toà,

Nguyên đơn bà Đặng Thu H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống. Đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung là Phạm Anh Đ, sinh ngày 11/3/2012. Không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung do ông T đang đi chấp hành án; Về tài sản chung, nhà đất ở, công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà H không có ý kiến gì về việc ông T nêu điều kiện đồng ý để bà H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Đ nhưng bà H không đi bước nữa. Nếu bà H lấy chồng mới thì sẽ để ông bà nội nuôi cháu Đ hoặc ông sẽ làm thủ tục yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Cụ thể: Toà án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền; Thực hiện đúng các thủ tục tố tụng; Việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử; thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm, về điều khiển phiên toà; Đối với các đương sự đã thực hiện đúng các quy định, các quyền trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Xử cho bà Đặng Thu H và ông Phạm Anh T được ly hôn; Giao con chung là cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 11/3/2012 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ông T.

Về tài sản chung, nhà đất ở, công nợ chung không xem xét giải quyết;

Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  • [1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

    - Về thẩm quyền giải quyết: Bà Đặng Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Phạm Anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số B ngõ V, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội. Bị đơn ông Phạm Anh T cũng nhất trí việc Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án theo thẩm quyền. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

    - Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, bị đơn ông Phạm Anh T hiện đang chấp hành án tại Trại giam V, Cục C2, Bộ C; Địa chỉ: xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

  • [2] Về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn:

    - Về tình cảm: Xét thấy, bà Đặng Thu H và ông Phạm Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận H, Thành phố Hà Nội ngày 09/12/2009 là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

    Xét thấy quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T nợ nần tiền bạc của nhiều người. Ngày 11/9/2020, ông T bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 18 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Đánh bạc”. Hiện ông T đang phải đi chấp hành án tại Trại giam V, Cục C2, Bộ C; Địa chỉ: xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Bà H có yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T, ông T cũng đồng ý ly hôn với bà H.

    Xét thấy, tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau....”. Xét ông bà đã không còn tình cảm, quan tâm tới nhau, cả hai không còn chung sống với nhau nhiều năm do ông T phải đi cải tạo một thời gian dài.

    Điều này cho thấy quan hệ hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cả hai không còn tình cảm với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp và để tạo điều kiện cho các bên ổn định cuộc sống riêng, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn của bà Đặng Thu H với ông Phạm Anh T.

    - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Anh Đ, sinh ngày 11/3/2012. Cháu Đ hiện đang do bà H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà H đề nghị được trực tiếp nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

    Theo quy định của pháp luật, việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, đảm bảo việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần của con chưa thành niên. Xét thấy, cháu Đ hiện đang ăn ở, sinh hoạt, học tập ổn định với bà H, cháu Đ trình bày mong muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn, ông T đang phải chấp hành án cũng nhất trí việc giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm: Giao cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 11/3/2012 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

    Về ý kiến của ông T chỉ đồng ý cho bà H được nuôi con chung nếu bà H không kết hôn với người khác. Nếu bà H kết hôn với người khác thì giao con cho ông bà nội nuôi dưỡng là không có căn cứ bởi lẽ, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên...Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con."

    Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.”

    Và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định vê nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình."

    Do đó trường hợp sau này, ông T không đồng ý việc bà H trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên nữa, ông T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

    - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ông T.

- Về tài sản chung, nhà đất ở, công nợ chung: Các đương sự đều xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Toà không xét.

- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

  1. [1] Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Đặng Thu H với ông Phạm Anh T.
  2. [2] Bà Đặng Thu H được ly hôn với ông Phạm Anh T.
  3. [3] Về con chung: Có 01 con chung là Phạm Anh Đ, sinh ngày 11/3/2012. Giao cháu Phạm Anh Đ cho bà Đặng Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ tháng 5/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

    Ông Phạm Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  4. [4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đặng Thu H không yêu cầu ông Phạm Anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Phạm Anh T kể từ tháng 5/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
  5. [5] Về tài sản chung; nhà, đất ở; công nợ chung: Không có và không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên Toà không xét.
  6. [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Đặng Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006015 ngày 10/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.
  7. [7] Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhân:

  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Các đương sự
  • - UBND nơi ĐKKH;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn H-T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger