Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15/4/2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hoàng Tuấn

Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 219/2023/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc "ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, giữa:

Nguyên đơn: Chị Đào Thị S, sinh năm 1990.

Nơi thường trú: Khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Khu E, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Đào Mạnh H, sinh năm 1980.

Nơi thường trú: khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Chị S có đơn xin xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn là chị Đào Thị S trình bày: Chị và anh Đào Mạnh Hà kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ ngày 28/11/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau. Từ tháng 9 năm 2023 do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị và con trai là cháu Đào Gia H1 đã về sống nhà bố mẹ đẻ ở khu E, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị S xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị S được ly hôn anh H. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đào Gia H1, sinh ngày 07/7/2015, hiện nay cháu H1 đang ở với chị S. Nếu ly hôn chị S đề nghị được trực tiếp nuôi cháu H1, tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 14/12/2023 chị S đề nghị anh H cấp dưỡng nuôi cháu H1 là 2.000.000đ/tháng nhưng đến ngày 15/3/2024 chị thay đổi quan điểm là không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị S không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đào Mạnh Hà được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh H từ chối nhận văn bản tố tụng, không đến Tòa án để làm việc, không có lời khai gửi cho Tòa án.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Anh H không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị S. Xử: cho chị Đào Thị S được ly hôn anh Đào Mạnh Hà; Giao cháu Đào Gia H1, sinh ngày 07/07/2015 cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị S do chị S không yêu cầu. Về tài sản chung, về nợ chung và công sức đóng góp: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn là anh H có nơi cư trú tại khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thụ lý, xét xử là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc tham gia tố tụng của bị đơn: Tòa án đã nhiều lần đến tận nơi cư trú để tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh H chỉ ký nhận một lần duy nhất vào ngày 28/12/2023, còn lại anh H đều từ chối nhận mặc dù Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương tống đạt trực tiếp. Anh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn không có mặt để tham gia phiên tòa mà không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án vẫn tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của chị S: Do điều kiện ở xa, đã tham gia phiên tòa lần thứ nhất nhưng anh H không có mặt nên tại phiên tòa lần 2, chị S vắng mặt. Ngày 14/12/2023, chị S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị S là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

- Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị S thấy rằng:

Chị S và anh H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ ngày 28/11/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị S cho rằng hôn nhân không có hạnh phúc, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không hợp nhau, vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay. Điều này là phù hợp với kết quả thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án đối với bà Nguyễn Thị G (mẹ đẻ chị Đào Thị S), UBND xã K, UBND thị trấn P về tình trạng hôn nhân và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của vợ chồng.

Xét thấy, từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, anh H biết được chị S viết đơn xin ly hôn và đã được Tòa án thụ lý nhưng không có bất kỳ động thái nào để giải quyết mâu thuẫn, vun đắp cuộc sống hôn nhân. Do đó, thấy rằng tình trạng hôn nhân của chị S, anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S đối với anh H là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

- Xét yêu cầu khởi kiện về con chung, cấp dưỡng nuôi con của chị S thấy rằng:

Chị S, anh H có 01 con chung là cháu Đào Gia H1, sinh ngày 07/7/2015. Hiện nay, cháu H1 đang sống cùng chị S và vẫn đảm bảo điều kiện sinh sống, học tập ổn định, cháu H1 cũng có nguyện vọng được ở với chị S. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu chị S và anh H cung cấp các điều kiện vật chất và tinh thần để được nuôi con nhưng chỉ có chị S cung cấp và qua những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án nhận được từ chị S thì thấy rằng chị S có công việc và thu nhập ổn định, các điều khác nên có đầy đủ điều kiện để nuôi con. Đối với bị đơn là anh H cố tình trốn tránh, không đến Tòa án làm việc, không có bản khai nên Tòa án không thể biết được anh H có nguyện vọng được nuôi cong chung hay không. Do đó, căn cứ vào các quy định của của pháp luật, cần giao con chung là cháu H1 cho chị S được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Chị S không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của đương sự nên cần chấp nhận.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị S không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không đề cập xem xét.

[3]. Về án phí: Chị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Chị S, anh H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị S.

    Cho chị Đào Thị S được ly hôn anh Đào Mạnh Hà.

  2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Đào Gia H1, sinh ngày 07/7/2015 cho chị Đào Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H1 thành niên, lao động tự túc được. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị S tự nguyện không yêu cầu.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Đào Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị S đã nộp đủ số tiền trên theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001087 ngày 12/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án chị S được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm; Anh H vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phù Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh;
  • - Lưu: HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Anh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chap nhan yeu cau ly hon
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger