TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/KDTM-PT Ngày: 13/8/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quý My.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và bà Trần Thị Nhài.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Đỗ Quang Chung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 14/2024/TLPT - KDTM ngày 01 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Do bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 06/2024/KDTM-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 139/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C3
Địa chỉ trụ sở chính: Số A T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Trần Minh B – Chủ tịch hội đồng quản trị, (Vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền: Văn bản ủy quyền số 455/UQQ-HĐQT-NHCT18 ngày 31/03/2022 của ngân hàng TMCP C3
- Bà Phạm Thị Minh N – Phó giám đốc ngân hàng TMCP C3 – chi nhánh T8, (Có mặt);
- A Hoàng Văn L – chức vụ: Trưởng phòng giao dịch chi nhánh L3, ngân hàng C3- chi nhánh T8, (Có mặt).
- Chị Nguyễn Thị Thanh N1 – chức vụ: Trưởng phòng tổng hợp, ngân hàng C3 - chi nhánh T8, (Có mặt).
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982, (Có mặt).
Cư trú tại: Xóm T, xã Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ, (Vắng mặt ông B1, có mặt bà Đ).
Cư trú tại: Tổ I, phường Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Đ và ông Lưu Văn B1: Luật sư Nguyễn Thị T, văn phòng L4, đoàn luật sư tỉnh T.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Đ và ông Lưu Văn B1: Luật sư Phùng Đức T1, văn phòng L4, đoàn luật sư tỉnh T.
- Anh Lưu Xuân T2, sinh năm 1994, (Có mặt);
- Anh Lưu Tuấn C, sinh năm 2004, (Có mặt);
- Ông Lưu Văn L1, sinh năm 1964, (Vắng mặt);
- Bà Lưu Thị D, sinh năm 1969, (Vắng mặt);
- Bà Lưu Thị N2, sinh năm 1962, (Vắng mặt);
- Ông Lưu Văn T3, sinh năm 1960, (Vắng mặt);
- Anh Nguyễn Mạnh C1, sinh năm 1986, (Vắng mặt);
Cùng cư trú tại: Tổ I, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP C3 – Chi nhánh T8 (sau đây gọi tắt là “V”) có ký kết, thực hiện 01 hợp đồng cho vay với chị Nguyễn Thị H theo hợp đồng cho vay số 01/2022-HĐCV/NHCT220 ngày 22/11/2022 với hạn mức cho vay: 700.000.000 đồng (Bẩy trăm triệu đồng); Mục đích vay để kinh doanh mua bán mỹ phẩm; Thời hạn vay 03 tháng từ ngày 22/11/2022 đến 22/02/2023; Lãi suất cho vay thông thường: 10,5%/năm; Lãi suất đối với dư nợ gốc quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay thông thường.
Ngày giải ngân khoản vay: 22/11/2022, số tiền giải ngân: 700.000.000 đồng (Bằng chữ: Bẩy trăm triệu đồng), giải ngân chuyển khoản cho Đỗ Thị Thiên H1 STK: 0821000183480 tại V1.
Để đảm bảo cho khoản vay trên chị H thế chấp quyền sử dụng đất của ông Lưu Văn B1 và Bà Nguyễn Thị Đ, ngân hàng TMCP C3 chi nhánh T8 và Lưu Văn B1, bà Nguyễn Thị Đ đã ký hợp đồng thế chấp 01/2019/HĐBĐ/NHCT220 ngày 15/11/2019 đối với các thửa đất:
- Thửa đất số 103, tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 300 m² đất ở đô thị được UBND Thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 638733 ngày 23/09/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ;
- Thửa đất số 116, Tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 781,6 m² đất trồng cây ăn quả lâu năm được UBND Thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 638734 ngày 23/09/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ.
Việc thế chấp được công chứng chứng thực tại văn phòng công số 1 tỉnh Thái Nguyên. Việc thế chấp được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Thành phố T theo đúng quy định của pháp luật.
Đến ngày thanh toán khoản vay, chị H không thực hiện thanh toán cho ngân hàng do đó toàn bộ khoản nợ của bà Nguyễn Thị H tại ngân hàng TMCP C3 – Chi nhánh T8 đã quá hạn từ ngày 23/02/2023. Đến hết ngày 28/02/2024, dư nợ của chị H tại ngân hàng là: 800.866.708đ (T4 trăm triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn bẩy trăm linh tám đồng chẵn), trong đó: Nợ gốc: 700.000.000đ; Lãi trong hạn: 5.350.685đ; Lãi quá hạn: 95.516.023đ.
Chị Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với V theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay nêu trên. Từ khi khoản nợ của Bà Nguyễn Thị H bị quá hạn, V đã nhiều lần nhắc nợ, đôn đốc nhưng bà Nguyễn Thị H không hợp tác và vẫn chưa thanh toán hết nợ cho V. Do đó, ngân hàng TMCP C3 khởi kiện chị Nguyễn Thị H, đề nghị Tòa án: Buộc chị Nguyễn Thị H phải trả cho ngân hàng TMCP C3 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các chi phí khác phát sinh theo hợp đồng cho vay số: 01/2022-HĐCV/NHCT220 ký ngày ngày 22/11/2022. Với dư nợ tạm tính đến hết ngày 28/02/2024 là: 800.866.708đ (T4 trăm triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn bẩy trăm linh tám đồng chẵn), trong đó: Nợ gốc là 700.000.000đ, Lãi trong hạn: 5.350.685đ; Nợ lãi đối với dư nợ gốc quá hạn: 95.516.023đ.
Kể từ ngày 29/02/2024, Bà Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số 01/2022-HĐCV/NHCT220 ngày 22/11/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ cho ngân hàng TMCP C3.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bà Nguyễn Thị H không thực hiện trả toàn bộ số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay 01/2022-HĐCV/NHCT220 ngày 22/11/2022 cho ngân hàng TMCP C3 thì ngân hàng TMCP C3 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 103 tờ bản đồ số 17 tại phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 300m² đất ở theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 638733 do U cấp ngày 23/09/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ; Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 116 tờ bản đồ số 17 tại phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 781,6m² đất trồng cây lâu năm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 638734 do U cấp ngày 23/09/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2019/HĐBĐ/NHCT220 ngày 15/11/2019 đã kí kết giữa ngân hàng TMCP C3, chi nhánh T8 với ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ. Sau khi xử lý tài sản thế chấp xong mà chưa đủ thanh toán khoản nợ vay tại ngân hàng đề nghị Tòa tuyên bị đơn phải tiếp tục dùng mọi nguồn thu (thu nhập, tài sản khác...) để thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ tại ngân hàng TMCP C3.
Sau khi có kết quả thẩm định đo đạc tại chỗ do Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên thực hiện; hiện trạng trên thửa đất 116, tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T có 1 ngôi mộ của bố ông Lưu Văn B1 là ông Lưu Đức T5, diện tích ngôi mộ 20,8m². Ngân hàng TMCP C3 tự nguyện để lại phần diện tích ngôi mộ của ông Lưu Đức T5, phần diện tích thế chấp còn lại được mà bà Nguyễn Thị H không thực hiện trả toàn bộ số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay cho ngân hàng TMCP C3 thì ngân hàng TMCP C3 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tại bản tự khai, quá trình giải quyết bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Các khoản vay theo hợp đồng tín dụng giữa chị và ngân hàng TMCP C3 đã ký vào ngày 22/11/2022 như ngân hàng trình bày là đúng, số tiền nợ gốc và nợ lãi như ngân hàng yêu cầu trả nợ chị hoàn toàn nhất trí. Để đảm bảo cho khoản vay chị có mượn sổ bìa đỏ thửa đất số 103 và thửa 116 tờ bản đồ số 17, phường Q của anh Lưu Văn B1 và chị Nguyễn Thị Đ để thế chấp. Do chị không làm ăn được nên còn nợ ngân hàng, đến nay chị chưa có khả năng trả nợ cho ngân hàng nên đề nghị cho chị thời gian trả nợ là 5 năm còn không đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Còn đối với tài sản thế chấp hiện có ngôi mộ bố anh B1 ở trên đất thì chị đề nghị ngân hàng thực hiện theo ý kiến của gia đình chị Đ để lại ngôi mộ, khi phát mại tài sản thì bán lại cho chị 100m² để làm nghĩa trang gia đình cho nhà chị Đ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Chị Nguyễn Thị H là em gái bà, cuối năm 2022 chị H có hỏi vợ chồng bà mượn đất là các thửa đất 116, 103, tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T để thế chấp ngân hàng mượn tiền, vì thương em nên vợ chồng bà nhất trí cho chị H mượn đất để thế chấp cho ngân hàng. Sau đó vợ chồng bà và con trai có xuống ngân hàng TMCP C3 ký hợp đồng thế chấp, còn chị H ký Hợp đồng vay với ngân hàng số tiền 700.000.000 đồng. Đến nay chị H không có khả năng trả nợ cho ngân hàng, nay ngân hàng khởi kiện chị H về việc trả nợ bà không có ý kiến, còn đối với tài sản thế chấp hiện nay có ngôi mộ bố chồng bà được an táng đào sâu chôn chặt hiện nay do ông Lưu Văn L1 thờ cúng, đề nghị ngân hàng khi phát mại phải để lại cho gia đình bà ngôi mộ và diện tích 100m2 tại thửa 116 để làm nghĩa trang gia đình.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lưu Văn B1: Quá trình giải quyết không có văn bản ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP C3 nhưng ông B1 là chồng bà Đ và ở cùng nhà với bà Đ, các văn bản tố tụng của Tòa án bà Nguyễn Đ đã nhận thay và cam đoan có trách nhiệm giao lại cho ông Lưu Văn B1.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lưu Văn T6 và Lưu Văn C2 trình bày: Đối với tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 103 và 116, tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T, bà H mượn để thế chấp tại ngân hàng TMCP C3 là của bố mẹ các anh, nay bà H không trả được tiền cho ngân hàng nên ngân hàng khởi kiện, các anh đề nghị bà H trả tiền cho ngân hàng để bố mẹ các anh lấy lại đất. Trường hợp bà H không trả được tiền cho ngân hàng thì đề nghị ngân hàng để lại phần mộ của ông nội các anh với diện tích khuôn viên là 100m².
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lưu Văn T3, ông Lưu Văn L1, bà Lưu Thị D, bà Lưu Thị N2, anh Nguyễn Mạnh C1 trình bày: Các thửa đất bà H mượn để thế chấp ngân hàng TMCP C3 là của ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ. Trên thửa đất 116, TBĐ A, phường Q có ngôi mộ của ông Lưu Đức T5 là bố của các ông bà mất năm 2017 được gia đình an táng theo phong tục đào sâu chôn chặt. Đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP C3 theo quy định của pháp luật nhưng đề nghị để lại ngôi mộ ông Lưu Đức T5 với diện tích khuôn viên mộ 100m².
Tại phiên tòa ngân hàng TMCP C3 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án: Buộc chị Nguyễn Thị H phải trả cho ngân hàng TMCP C3 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các chi phí khác phát sinh theo hợp đồng cho vay số: 01/2022-HĐCV/NHCT220 ký ngày 22/11/2022, với dư nợ tạm tính đến hết ngày 26/4/2024 là: 815.624.221đ, trong đó: nợ gốc là 700.000.000đ, lãi trong hạn: 5.350.685đ; nợ lãi đối với dư nợ gốc quá hạn: 110.273.536 đ.
Kể từ ngày 27/4/2024, bà Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng cho vay nêu trên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ cho ngân hàng TMCP C3.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bà Nguyễn Thị H không thực hiện trả toàn bộ số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay 01/2022-HĐCV/NHCT220 ngày 22/11/2022 cho ngân hàng TMCP C3 thì ngân hàng TMCP C3 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 103 tờ bản đồ số 17 tại phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 300m² đất ở theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 638733 do U cấp ngày 23/09/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ; Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 116 tờ bản đồ số 17 tại phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 781,6m² – 20,8m² ngôi mộ theo kết quả đo đạc của công ty cổ phần Đ1, còn lại là 760,8m², mục đích đất trồng cây lâu năm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 638734 do U cấp ngày 23/09/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2019/HĐBĐ/NHCT220 ngày 15/11/2019 đã kí kết giữa ngân hàng TMCP C3 chi nhánh T8 với ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ. Sau khi xử lý tài sản thế chấp xong mà chưa đủ thanh toán khoản nợ vay tại ngân hàng đề nghị Tòa tuyên bị đơn phải tiếp tục dùng mọi nguồn thu (thu nhập, tài sản khác...) để thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ tại ngân hàng TMCP C3.
Sau khi xử lý tài sản thế chấp xong mà chưa đủ thanh toán khoản nợ vay tại ngân hàng thì chị Nguyễn Thị H tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng TMCP C3.
Tại bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 06/2024/KDTM-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 147; Điều 157, 165; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 317, 318, 319, 320, khoản 1 Điều 351 Bộ luật dân sự; điểm g khoản 1 Điều 179 Luật đất đai; khoản 14 Điều 4; các điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 3 Nghị định số 83/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP C3 đối với chị Nguyễn Thị H.
- Buộc chị Nguyễn Thị H phải trả cho ngân hàng TMCP C3 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các chi phí khác phát sinh theo Hợp đồng cho vay số: 01/2022-HĐCV/NHCT220 ký ngày ngày 22/11/2022. Với dư nợ tạm tính đến hết ngày 26/4/2024 là: 815.624.221đ, trong đó: Nợ gốc là 700.000.000đ, lãi trong hạn: 5.350.685 đồng; Nợ lãi đối với dư nợ gốc quá hạn: 110.273.536 đồng.
- Kể từ ngày 27/4/2024, chị Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh của số tiền gốc chưa thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số: 01/2022-HĐCV/NHCT220 ký ngày 22/11/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ cho ngân hàng TMCP C3.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bà Nguyễn Thị H không thực hiện trả toàn bộ số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay nêu trên cho ngân hàng TMCP C3 thì ngân hàng TMCP C3 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại xử lý tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo hợp đồng thế chấp số 01/2019/HĐBĐ/NHCT220, số công chứng 4488, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/11/2019 tại văn phòng C4 tỉnh Thái Nguyên đã ký giữa ông Lưu Văn B1, bà Nguyễn Thị Đ, anh Lưu Xuân T2 (Bên thế chấp) và ngân hàng TMCP C3 (Bên nhận thế chấp), tài sản thế chấp gồm:
- Quyền sử dụng diện tích đất 300m², đất ở đô thị, thửa đất số 103, tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Giấy chứng nhận QSD đất số AC638733 do UBND Thành phố T cấp ngày 23/9/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ (vị trí thửa đất theo sơ đồ do công ty cổ phần Đ1 đo đạc là các điểm 1,2,3,19,1), (có sơ đồ kèm theo).
- Quyền sử dụng diện tích đất 760,8m² (781,6m² - 20,8 m² ngôi mộ =760,8 m²), đất trồng cây ăn quả lâu năm, thửa đất số 116, tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Giấy chứng nhận QSD đất số AC638734 do UBND Thành phố T cấp ngày 23/9/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ (vị trí thửa đất theo sơ đồ do công ty cổ phần Đ1 đo đạc là các điểm1,19,3,4,5,20,11,12,13,14,15,16,17,18,1;vị trí ngôi mộ a,b,c,d,e,h,i,k,a) (có sơ đồ kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: Ngân hàng TMCP C3 tự nguyện chịu toàn bố sô tiền chi phí thẩm định đo đạc là 10.000.000 đồng, ngân hàng C3 đã thanh toán xong.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 36.468.726 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nướcc. Trả lại cho ngân hàng TMCP C3 số tiền 16.129.451 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thái Nguyên theo biên lai số 0000357 ngày 05 tháng 7 năm 2023.
- Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Nguyễn Thị Đ, anh Lưu Tuấn C) có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định.
- Ngày 27/5/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lưu Xuân T2 kháng cáo toàn bộ đối với bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị sửa đổi bổ sung yêu cầu điều chỉnh lại diện tích đất khu mộ trên đất thế chấp cho gia đình là 100m2.
- Ngày 27/5/2024 bị đơn người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lưu Văn B1 kháng cáo một phần bản án; Tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị sửa đổi bổ sung yêu cầu điều chỉnh lại diện tích đất khu mộ trên đất thế chấp cho gia đình là 100m2.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lưu Văn B1 và Lưu Văn T6, áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 300, Điều 148 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/NQ14- UBTVQHngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Sửa một phần bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2024/KDTM-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngân hàng TMCP C3 khởi kiện chị Nguyễn Thị H, trú tại Xóm T, xã Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên yêu cầu trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký. Ngân hàng là doanh nghiệp và có giấy phép kinh doanh, chị Nguyễn Thị H có giấy đăng ký kinh doanh hộ gia đình, vay tiền để kinh doanh. Do đó xác định đây là vụ án Kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quy định khoản 1 Điều 30, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên.
Sau khi xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Lưu Văn B1 và Lưu Văn T6 kháng cáo và nộp tạm ứng án phí trong hạn nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm:
[2.1] Hợp đồng cho vay HĐCV số 01/2022-HĐCV/NHCT220 ngày 22/11/2022, giấy nhận nợ ngày 22/11/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2019/HĐBĐ/NHCT220 ngày 15/11/2019, số công chứng 4488, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại văn phòng C4 tỉnh Thái Nguyên hai bên thống nhất thoả thuận, ký kết bởi những người có đủ thẩm quyền, hình thức, nội dung hợp đồng không vi phạm các điều cấm, không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Do vậy, hợp đồng là hợp pháp, là có căn cứ pháp lý để các bên thực hiện.
[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình giải ngân cho chị H vay số tiền theo đúng hợp đồng vay hai bên đã ký. Chị H xác nhận đã nhận đủ số tiền vay nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, kế ước nhận nợ hai bên đã ký. Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận nên ngân hàng khởi kiện chị H yêu cầu thanh toán khoản nợ.
[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với khoản nợ gốc và lãi:
Về khoản nợ gốc: Căn cứ lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn cùng các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp xác định: Số tiền nợ gốc ngân hàng đã giải ngân cho chị H là 700.000.000.000₫ (Bảy trăm triệu đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng chị H chưa thanh toán được cho ngân hàng TMCP C3 số tiền nào. Như vậy, số tiền nợ gốc chị H phải thanh toán cho ngân hàng là 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng). Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về việc buộc chị H phải trả khoản tiền nợ gốc nêu trên là có căn cứ chấp nhận.
Về khoản tiền lãi: Tại các điều 2, 3 của hợp đồng cho vay và giấy nhận nợ các bên đã thỏa thuận lãi suất cho vay thông thường: 10,5%/năm, lãi suất đối với dư nợ gốc quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay thông thường
Căn cứ vào thỏa thuận trên chị H phải trả số tiền gốc, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn được tính quy định trong hợp đồng, kế ước nhận nợ hai bên đã ký cụ thể được điều chỉnh theo quy định của ngân hàng. Quá trình thực hiện chị H chưa thanh toán được cho ngân hàng được khoản tiền gốc lãi nào. Từ ngày 23/02/2023 chị H vi phạm thời hạn trả nợ của hợp đồng cho vay, do đó ngân hàng TMCP C3 ra thông báo thu hồi nợ đối với toàn bộ khoản vay chưa thanh toán. Do chị H vi phạm thời hạn trả nợ nên đã phát sinh các khoản nợ lãi nên yêu cầu của ngân hàng về việc yêu cầu chị H phải trả lãi trong hạn, lãi quá hạn là có căn cứ. Ý kiến của chị H đề nghị ngân hàng cho thêm thời gian để thu xếp trả nợ là 5 năm, do ngân hàng không chấp nhận nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét đề nghị này của bị đơn.
Tính đến hết ngày 26/4/2024, chị H còn nợ ngân hàng theo hợp đồng cho vay số 01/2022-HĐCV/NHCT220 ký ngày ngày 22/11/2022, giấy nhận nợ ngày 22/11/2022 của ngân hàng TMCP C3 số tiền là: 815.624.221đ, trong đó: Nợ gốc là 700.000.000 đồng, L2 trong hạn: 5.350.685 đồng; Nợ lãi đối với dư nợ gốc quá hạn: 110.273.536 đồng. Buộc chị Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ khoản tiền tiền gốc, lãi nêu trên cho ngân hàng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm chị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
[2.4]. Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Chị Nguyễn Thị H là khách hàng của ngân hàng TMCP C3 từ năm 2019. Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản vay của chị H tại ngân hàng TMCP C3, ngày 15/11/2019 bà Nguyễn Thị Đ, ông Lưu Văn B1 và ngân hàng TMCP C3 đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2019/HĐBĐ/NHCT220, số công chứng 4488, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD tại văn phòng C4 tỉnh Thái Nguyên. Theo nội dung hợp đồng thế chấp là quyền sử dụng:
- Thửa đất số 103, Tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 300 m² đất ở đô thị được UBND Thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 638733 ngày 23/09/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ;
- Thửa đất số 116, Tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 781,6 m² đất trồng cây ăn quả lâu năm được UBND Thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 638734 ngày 23/09/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ.
Hợp đồng thế chấp được đăng ký thế chấp tại chi nhánh V2 đăng ký đất đai Thành phố T đúng quy định.Theo quy định tại mục 1.02; mục 1.03 Điều 1 của hợp đồng thế chấp thì nghĩa vụ được bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn của bên được bảo đảm đối với bên nhận thế chấp phát sinh từ tất cả các hợp đồng cho vay mà bên được bảo đảm ký với bên nhận thế chấp trước, cùng và hoặc sau thời điểm ký kết hợp đồng cấp tín dụng. Việc thế chấp chấm dứt khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm đã thực hiện xong và các bên hoàn tất các thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc các bên bàn giao xong việc bàn giao hoàn trả các giấy tờ tài sản thé chấp cho nhau và ký kết biên bản bàn giao để hoàn tất thủ tục giải chấp. Do đó, hợp đồng thế chấp số 01/2019/HĐBĐ/NHCT220, số công chứng 4488, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/11/2019 tại văn phòng C4 tỉnh Thái Nguyên là nghĩa vụ được bảo đảm cho khoản vay tại hợp đồng cho vay số 01/2022-HĐCV/NHCT220 ký ngày ngày 22/11/2022, giấy nhận nợ ngày 22/11/2022 của ngân hàng TMCP C3 đối với chị Nguyễn Thị H.
Xét thấy: Thời điểm cấp giấy chứng nhận QSD đất theo sổ hộ khẩu quyển số 42, số hồ sơ hộ khẩu 2289 ngày 15/5/200 thì hộ gia đình ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ gồm có ông Lưu Văn B1, bà Nguyễn Thị Đ, anh Lưu Xuân T2, anh Lưu Tuấn C. Khi ký hợp đồng thế chấp ngày 15/11/2019, ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ, anh Lưu Xuân T2 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Đký kết, anh Lưu Tuấn C chưa đủ 18 tuổi. Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký được thoả thuận, ký kết bởi những người có đủ năng lực, thẩm quyền, được chứng nhận bởi cơ quan công chứng chứng thực và được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Do vậy, hợp đồng thế chấp là hợp pháp, là căn cứ pháp lý phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên ngày 29/72023 hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ đang quản lý sử dụng diện tích đất như sau:
- Thửa đất số 103, Tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 300 m² đất ở đô thị được UBND Thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 638733 ngày 23/09/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ, trên đất không có tài sản gì.
- Thửa đất số 116, Tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, được UBND Thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 638734 ngày 23/09/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ diện tích 781,6 m² đất trồng cây ăn quả lâu năm. Trên đất có 01 ngôi mộ của ông Lưu Đức T5 là bố đẻ ông Lưu Văn B1 được mai táng năm 2017, còn lại không có tài sản gì.
Theo kết quả đo đạc của công ty cổ phần Đ1 thì diện tích thửa đất 103, tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T là 300m²; thửa đất 116, tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T là 781,6m² nhưng thực tế sử dụng 801,4 m2, tăng thêm do lấn đường giao thông, hiện trạng không có tranh chấp, trên thửa đất 116 có ngôi mộ diện tích 20,8m².
Quá trính giaỉ quyết vụ án và tại phiên tòa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các con, cháu ông Lưu Đức T5 xác định tài sản ông B1 bà Đ thế chấp tại ngân hàng TMCP C3 là của ông B1 và bà Đ, trên thửa đất số 116, TBĐ số 17, phường Q, Thành phố T có ngôi mộ ông Lưu Đức T5 đề nghị ngân hàng TMCP C3 để lại ngôi mộ của ông Lưu Đức T5 với khuôn viên mộ tổng diện tích 100m². Theo hợp đồng thế chấp hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ thế chấp toàn bộ diện tích đất thửa 103 và 116, tờ bản đồ số 17, phường Q cho ngân hàng TMCP C3. Theo quy định tại Điều 5 của hợp đồng thế chấp, thỏa thuận ngày 15/11/2019 hai bên đã ký quy định: Bên nhận thế chấp có quyền xử lý sản thế chấp khi bên được bảo đảm vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm, vi phạm hợp đồng cấp tín dụng.
Như vậy, bên thế chấp được quyền xử lý tài thế chấp là quyền sử dụng đất với toàn bộ tài sản gắn liền với đất để thu hồi một phần nợ hoặc toàn bộ các khoản phải trả kể cả các khoản chưa đến hạn, khi đến hạn bên được bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản phải trả.
Trong quá trình giải quyết vụ án những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị không phát mại xử lý và trừ lại diện tích đất có ngôi mộ với khuôn viên ngôi mộ là là 82,7 m² có các mốc a, b, 5, 4,3, a m² và tại phiên tòa phúc thẩm ngân hàng TMCP C3 tự nguyện thỏa thuận trừ lại phần diện tích ngôi mộ của ông Lưu Đức T5 theo kết quả đo đạc chỉnh lý tháng 8/2024 của công ty cổ phần Đ1 là 82,7 m² có các mốc a, b, 5, 4,3, a không phát mại xử lý. Do đó Tòa án ghi nhận sự tự nguyện, tự định đoạt của ngân hàng TMCP C3 là phù hợp sự thỏa thuận của các bên đương sự, cần công nhận sự thỏa thuận nêu trên.
Do chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho vay và giấy nhận nợ đã ký với ngân hàng TMCP C3 nên yêu cầu về việc đề nghị Tòa án tuyên phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích đất hộ ông Lưu Văn B2 và bà Nguyễn Thị Đ đang quản lý, sử dụng tại thửa đất số 103; Thửa đất số 116, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: phường Q, Thành phố T để thu hồi nợ trong trường hợp chị H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên của ngân H2 là có căn cứ.
Sau khi xử lý tài sản thế chấp xong mà chưa đủ thanh toán khoản nợ vay tại ngân hàng thì chị H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ tại ngân hàng TMCP C3 cho đến khi thanh toán xong.
[3] Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Tòa án đã xem xét thẩm định tại chỗ tài sản hết số tiền 10.000.000 đồng, số tiền này nguyên đơn đã tự nguyện chi trả và đã thực hiện xong.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của ngân hàng được Toà án chấp nhận. Trả lại cho ngân hàng số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Các bên đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 308; Điều 284; Điều 309; Điều 148; khoản 3 Điều 26; Điều 147; Điều 157, 165; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 317, 318, 319, 320, khoản 1 Điều 351 Bộ luật dân sự; điểm g khoản 1 Điều 179 Luật đất đai; khoản 14 Điều 4; các điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 3 Nghị định số 83/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Chấp nhận một phần kháng cáo của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Lưu Văn B1 và ông Lưu Văn T6; Công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự, sửa một phần bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP C3 đối với chị Nguyễn Thị H.
- Buộc chị Nguyễn Thị H phải trả cho ngân hàng TMCP C3 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các chi phí khác phát sinh theo hợp đồng cho vay số: 01/2022-HĐCV/NHCT220 ký ngày ngày 22/11/2022; Với dư nợ tính đến hết ngày 26/4/2024 là: 815.624.221đ, trong đó: Nợ gốc là 700.000.000đ, L2 trong hạn: 5.350.685 đồng; Nợ lãi đối với dư nợ gốc quá hạn: 110.273.536 đồng.
- Kể từ ngày 27/4/2024, chị Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh của số tiền gốc chưa thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số: 01/2022-HĐCV/NHCT220 ký ngày 22/11/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ cho ngân hàng TMCP C3.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà Bà Nguyễn Thị H không thực hiện trả toàn bộ số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng cho vay nêu trên cho ngân hàng TMCP C3 thì ngân hàng TMCP C3 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại xử lý tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo hợp đồng thế chấp số 01/2019/HĐBĐ/NHCT220, số công chứng 4488, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/11/2019 tại văn phòng C4 tỉnh Thái Nguyên đã ký giữa ông Lưu Văn B1, bà Nguyễn Thị Đ, anh Lưu Xuân T2 (bên thế chấp) và ngân hàng TMCP C3 (bên nhận thế chấp), tài sản thế chấp gồm:
- Quyền sử dụng diện tích đất 300m², đất ở đô thị, thửa đất số 103, tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Giấy chứng nhận QSD đất số AC638733 do UBND Thành phố T cấp ngày 23/9/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ (vị trí thửa đất theo sơ đồ do công ty cổ phần Đ1 đo đạc là các điểm 1,2,3,19,1).
- Quyền sử dụng đất trồng cây ăn quả lâu năm, thửa đất số 116, tờ bản đồ số 17, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC638734 do UBND Thành phố T cấp ngày 23/9/2005 mang tên hộ ông Lưu Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ. Công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự, cụ thể để lại diện tích đất có ngôi mộ là 82,7 m² có các mốc a, b, 5, 4, 3, a. Diện tích đất còn lại là 781,6m² – 82,7 m² = 698,9m² (có các mốc 1, 19, 3, a, b, 20, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 1);
(Có sơ đồ chỉnh lý tháng 8/2024 của công ty cổ phần Đ1 đo đạc kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: Ngân hàng TMCP C3 tự nguyện chịu toàn bố số tiền chi phí thẩm định đo đạc là 10.000.000 đồng, ngân hàng C3 đã thanh toán xong.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 36.468.726 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước. Trả lại cho ngân hàng TMCP C3 số tiền 16.129.451 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thái Nguyên theo biên lai số 0000357 ngày 05 tháng 7 năm 2023.
Các bên đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Hoàn trả lại cho ông Lưu văn B3 và anh Lưu văn T7 mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002892 và số 0002893 cùng ngày 10/6/2024 của chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thái Nguyên.
- Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Quý My |
Bản án số 10/2024/KDTM-PT ngày 13/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 10/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Lưu Văn B1 và ông Lưu Văn T6; Công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự, sửa một phần bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
