|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2024/DS-ST Ngày 12-7-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Ngô Xuân Sang.
- - Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Văn Lược; Ông Đỗ Đức Thẩm
- - Thư ký phiên toà: ông Hoàng Văn Trung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn: Bà Nguyễn Thị Huấn- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2023/TLST-DS ngày 31tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 08/2024/QĐXXST-DS ngày 12/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2024/QÐST - DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.
- Bị đơn:
Địa chỉ: T, C H, quận H, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: ông Phan Đức T- Chức vụ: Chủ tịch HĐQT
Người được ủy quyền: Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh thị xã B
Địa chỉ: số A, đường T, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa
Do ông Trần Trung K- Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh thị xã B.
Người được ủy quyền lại: Bà Phạm Thị L- Chức vụ: Giám đốc phòng G- Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh thị xã B (có mặt).
Anh Lê Văn H, sinh năm 1988 và chị Lê Thị P, sinh năm1990
Đều trú tại: số nhà E, Ngõ C, đường H, Khu Phố C, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (Anh H vắng mặt và đã được Tòa án thông báo tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng; Chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/07/2023, bản tự khai ngày 01 tháng 3 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện ngân hàng trình bày:
Ngày 19/7/2016, vợ chồng anh Lê Văn H và chị Lê Thị P đã có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh thị xã B (sau đây gọi tắt là B1) thông qua Hợp đồng tín dụng số: 01/2016/8746295/HĐTD ký ngày 19/7/2016. B1 đã thực hiện giải ngân cho vay với tổng số tiền là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Cụ thể:
Thời hạn vay vốn: 50 tháng kể từ ngày 19/7/2016; mục đích vay vốn: phục vụ nhu cầu trong gia đình; lãi suất vay: 11,5%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; hình thức trả gốc, lãi: gốc được trả thành 50 kỳ, 01 tháng /kỳ, bắt đầu từ ngày 25/8/2016, lãi được được thanh toán định kỳ vào ngày 25 hàng tháng.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay là: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại khu phố C, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB714118, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH01601 do UBND thị xã B, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 15/6/2016, đứng tên anh Lê Văn H (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 01/2016/8746295/HĐBĐ, ký ngày 14/7/2016 đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định).
Ngày 04/5/2017, vợ chồng anh H và chị P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng số: 01/2016/8746295/HĐTD ký ngày 19/7/2016. Sau khi anh H và chị P vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã đôn đốc và gửi thông báo nợ quá hạn đến anh H và chị P nhưng anh H và chị P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Tổng dư nợ của anh H và chị P tính đến ngày 30/6/2023: dư nợ gốc: 30.550.000đ; dư lãi trong hạn: 22.420.134đ; lãi quá hạn 12.296.138đ; tổng cả gốc và lãi tính đến ngày 30/6/2023, anh H và chị P còn nợ là 65.266.272đ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P đã trả cho ngân hàng toàn số tiền gốc là 30.549.999₫ vào ngày 01/3/2024.
Vì vậy, Ngân hàng xin rút một phần yêu cầu đối với số tiền nợ gốc là 30.549.999đ và đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Lê Văn H và chị Lê Thị P phải có trách nhiệm trả số nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 12/7/2024 cụ thể như sau:
+ Nợ gốc:
1 đồng
+ Nợ lãi trong hạn:
24.646.889 đồng
+ Nợ lãi quá hạn:
13.409.458 đồng
Tổng cộng:
38.056.348 đồng
Vậy, lãi tính đến ngày 12/7/2024 anh H và chị p phải trả cho ngân hàng là 38.056.348 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng trên số tiền gốc còn nợ lại cho đến khi trả hết nợ. Đồng thời, phải thanh toán các khoản chi phí phát sinh trong quá trình khởi kiện.
Tại bản tự khai ngày 27 tháng 02 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị P trình bày: anh H và chị P có vay của ngân B1 số tiền gốc là 150.000.000₫ theo Hợp đồng tín dụng số: 01/2016/8746295/HĐTD ngày 19/7/2016. Tính đến ngày 30/6/2023, anh H và chị P còn nợ ngân hàng số tiền là 65.266.272đ (sáu mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm bảy mươi hai đồng). Trong đó, nợ gốc là 30.550.000đ, lãi trong hạn là 22.420.134đ và lãi quá hạn là 12.296.138đ. Anh H, chị P sẽ có trách nhiệm trả số tiền trên cho ngân hàng.Do điều kiện khó khăn, chồng chị là anh Lê Văn H đã 5 năm nay sinh sống và cư trú ở đâu chị không biết. Một mình chị nuôi hai cháu nên chị đề nghị ngân hàng tạo điều kiện cho chị trả ngay số tiền gốc là 30.550.000đ, số tiền lãi 22.420.134đ chị xin trả dần mỗi tháng là 2.000.000đ cho đến khi hết nợ. Đối với số tiền lãi quá hạn 12.296.138đ, chị đề nghị ngân hàng xem xét miễn cho chị vì thực sự hiện nay chị rất khó khăn. Nếu không trả được nợ thì chị chấp nhận để B1 yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại đối với tài sản thế chấp để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ đối với ngân hàng. Tài sản bảo đảm khoản vay là: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại khu phố C, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số:CB 714118, số vào sổ cấp GCN: CH01601 do UBND thị xã B, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 15/6/2016, đứng tên anh H).
Đối với bị đơn anh Lê Văn H: trên cơ sở xác minh thì anh H đã đi khỏi địa phương, hiện nay anh H sinh sống và cư trú ở đâu, địa phương không biết. Toà án đã đăng tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú để tìm kiếm anh H, nhưng hết thời hạn đăng tin vẫn không có tin tức gì của anh H. Ngoài việc đăng tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh H Toà án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, quyết định xem xét thẩm định tại chỗ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả thẩm định và thông báo kết quả phiên họp cho anh H nhưng anh H không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập, nên Tòa án không lấy được lời khai của anh H; không hòa giải được vụ án và tại phiên tòa anh anh H cũng vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần nợ gốc là 30.549.999đ, đề nghị anh Lê Văn H và chị Lê Thị P phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc, tiền lãi trong hạn và quá hạn tính đến ngày 12/7/2024 Theo hợp đồng tín dụng số:01/2016/8746295/HĐTD ký ngày 19/7/2016 là: Tiền nợ gốc là 1 đồng, lãi trong hạn: 24.646.889đ, lãi quá hạn: 13.409.458đ ; Tổng số tiền gốc, tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 12/7/2024 là: 38.056.348₫ (Ba mươi tám triệu không trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm bốn tám đồng) và lãi phát sinh theo hợp đồng trên số tiền gốc còn nợ lại cho đến khi trả hết nợ. Đồng thời, phải thanh toán khoản chi phí xem xét thẩm định tại chỗ trong quá trình khởi kiện là 3.500.000₫.
Nếu không trả được thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp để thu hồi vốn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX và các đương sự là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị chấp nhận đối với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số nợ gốc là 30.549.999đ buộc anh Lê Văn H và chị Lê Thị P phải trả số tiền gốc, tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 12/7/2024 theo hợp đồng tín dụng, nếu chị P, anh H không trả được nợ, Ngân hàng có quyền đề nghị kê biên, phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi vốn; về án phí, đề nghị HĐXX buộc anh H và chị P phải chịu án phí đối với số tiền lãi phải trả, anh H và chị P phải trả cho ngân hàng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về tố tụng: Hợp đồng tín dụng số: 01/2016/8746295/HĐTD ngày 19/7/2016 được ký kết giữa N1- Chi nhánh B với vợ chồng anh Lê Văn H, chị Lê Thị P, mục đích sử dụng vốn vay: phục vụ nhu cầu trong gia đình. Đây là tranh chấp trong lĩnh vực dân sự. Theo nội dung của hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
[2] Về nội dung:
*Xét về hợp đồng tín dụng: theo nội dung Hợp đồng tín dụng số: 01/2016/8746295/HĐTD ngày 19/7/2016 được ký kết giữa B1 với vợ chồng anh Lê Văn H, chị Lê Thị P vay của Ngân hàng là 150.00.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng); thời hạn vay là 50 tháng từ ngày 19/7/2016, lãi suất vay 11,5%/ năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; hình thức trả gốc, lãi: gốc được trả thành 50 kỳ, 01 tháng /kỳ, bắt đầu từ ngày 25/8/2026. Lãi được được thanh toán định kỳ vào ngày 25 hàng tháng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại khu phố C, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB714118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01601 do UBND thị xã B, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 15/6/2016, đứng tên anh Lê Văn H).
Từ ngày 04/5/2017 vợ chồng anh Lê Văn H và chị Lê Thị P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tại phiên toà nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc là 30.549.999đ. Tính đến ngày12/7/2024, số nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng anh H và chị P còn nợ số tiền gốc là 1 đồng, lãi trong hạn là 24.646.889đ, lãi quá hạn: 13.409.458đ ; Tổng số tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 12/7/2024 là: 38.056.348đ (Ba mươi tám triệu không trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm bốn tám đồng)
Xét về Hợp đồng tín dụng: hình thức và nội dung phù hợp với các quy định của pháp luật, nên có giá trị pháp lý buộc các bên phải thực hiện. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc là 30.549.999₫ của nguyên đơn là do bị đơn đã trả số tiền nợ gốc, việc rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc 30.549.999đ là hoàn toàn tự nguyện nên được chấp nhận. Vì vậy, HĐXX có đủ căn cứ chấp nhận đối với số tiền nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 12/7/2024 theo hợp đồng buộc vợ chồng anh Lê Văn H và chị Lê Thị P phải trả cho Ngân hàng là 38.056.348₫ (Ba mươi tám triệu không trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm bốn tám đồng) và lãi phát sinh theo hợp đồng trên số tiền nợ gốc còn nợ lại kể từ ngày 13/7/2024 cho đến khi trả hết nợ.
Xét về hợp đồng thế chấp: Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại khu phố C, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB714118 và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/6/2024, cụ thể thửa đất thuộc thửa số 131, tờ bản đồ số 17 Bản đồ địa chính phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa phê duyệt năm 2011; diện tích đất là 61,6 m², có các cạnh tiếp giáp như sau: cạnh Phía Đông giáp đất nhà ông B dài 5,8m; cạnh phía Tây giáp lối đi chung dài 4,2m + 1,08 m = 5,28m; cạnh phía Bắc Giáp nhà ông B dài 11m; cạnh phía Nam giáp đất nhà bà N dài 12,2m). Tài sản trên đất là 01nhà ở cấp 4 nền lát gạch cramic, tường xây gạch đỏ mái lợp prôximăng, diện tích xây dựng 40,7m². Theo hợp đồng thê chấp bất động sản số: 01/2016/8746295/HĐBĐ, ký ngày 14/7/2016 giữa NBIDV Bỉm Sơn với vợ chồng anh H và chị P đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý.
Trường hợp vợ chồng anh H và chị P không trả được số nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền kê biên phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi vốn.
[3].Về án phí: anh Lê Văn H và chị Lê Thị P phải nộp tiền án phí DSST theo quy định tại điểm c mục 1.3 danh mục về án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 đối với số tiền gốc và lãi là 1.903.000đ(Một triệu chin trăm linh ba ngìn đồng) và phải trả cho Ngân hàng số tiền chi phí thẩm định đối với tài sản thế chấp là 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 280, Điều 292, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 351, Điều 463, khoản 1, 5 Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 244, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng TMCP Đ.
- Buộc chị Lê Thị P và anh Lê Văn H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 12/7/2024 theo Hợp đồng tín dụng số:01/2016/8746295/HĐTD, ngày 19/7/2016 gồm: Tiền gốc còn nợ lại là 1 (một đồng) Lãi suất trong hạn 24.646.889đ, lãi quá hạn: 13.409.458đ ; Tổng cộng số tiền anh Lê Văn H và chị Lê Thị P phải trả là: 38.056.348₫ (Ba mươi tám triệu không trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm bốn tám đồng)
Anh Lê Văn H và chị Lê Thị P phải trả số tiền chi phí thẩm định cho Ngân hàng TMCP Đ là: 3.500.000₫ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu chị P và anh H không thanh toán hết số tiền trên cho Ngân hàng TMCP Đ, thì ngân hàng có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm gồm:
Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại khu phố C, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB714118, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01601 do UBND thị xã B, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 15/6/2016 đứng tên anh Lê Văn H), thửa đất số 131, tờ bản đồ số 17, diện tích đất thực tế còn lại là 61,6m² có các cạnh tiếp giáp như sau: cạnh Phía Đông giáp đất nhà ông B dài 5,8m; cạnh phía Tấy giáp lối đi chung dài 4,2m + 1,08 m = 5,28m; cạnh phía Bắc Giáp nhà ông B dài 11m; cạnh phía Nam giáp đất nhà bà N dài 12,2m). Tài sản trên đất là 01nhà ở cấp 4 nền lát gạch cramic, tường xây gạch đỏ mái lợp prôximăng, diện tích xây dựng 40,7m². Theo hợp đồng thê chấp bất động sản số: 01/2016/8746295/HĐBĐ, ký ngày 14/7/2016 giữa Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/6/2024.
Trường hợp số tiền xử lý tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ lãi cho Ngân hàng, thì chị Lê Thị P và anh Lê Văn H vẫn phải trả số tiền còn lại Theo hợp đồng tín dụng số: 01/2016/8746295/HĐTD ngày 19/7/2016 cho đến khi hết nợ.
- Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện mà Ngân hàng TMCP Đ đã rút đối với số tiền gốc là 30.549.999đồng (Ba mươi triệu năm trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm chín mươi chín đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: chị Lê Thị P và anh Lê Văn H phải chịu 1.903.000đ(Một triệu chín trăm linh ba ngìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ (đại diện là Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B) số tiền tạm ứng án phí Ngân hàng đã nộp 1.631600đồng (một triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm đồng), theo biên lai thu tiền số AA/2022/0006351ngày 26/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/7/2024). Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Sang |
Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 10/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ Ngân hàng TMCP Đ và bị đơn Lê Văn H tranh chap hop dong tin dung
