TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG – TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12 tháng 4 năm 2024
V/v " Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khánh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lê Thị Hồng
- Bà Lê Thị Hoàng Thương
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ph, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Thôn An Ngãi Đông, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Thôn An Ngãi Đông, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 05 tháng 12 năm 2023, bản tự khai và trình bày tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Ph thể hiện:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Phượng và ông Phạm Văn T xây dựng gia đình năm 1999 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoà Liên, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.
Sau khi xây dựng gia đình vợ chồng chung sống tại tại thôn An Ngãi Đông, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng
bất đồng quan điểm, ngoài ra ông Phạm Văn T bạo hành đánh đập bà Lê Thị Ph và còn chơi đánh bài bạc dẫn đến thiếu nợ nhiều người dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn lại càng thêm khó khăn.
Nay bà Lê Thị Ph xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Phạm Văn T.
- Về con chung: Bà Lê Thị Ph xác định vợ chồng có 02 (hai) người con chung là Phạm Nhật M, sinh ngày 19/9/2001 và Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 03/10/2009.
Ly hôn, bà Ph có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Thị Ngọc H, không yêu cầu ông Phạm Văn T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Đối với con chung Phạm Nhật M, sinh ngày 19/9/2001 đã trên 18 tuổi nên không đề cập đến.
- Về tài sản chung: Bà Lê Thị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Lê Thị Ph xác định không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Hòa Vang đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Phạm Văn Toàn, để biết việc bà Lê Thị Phượng gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án. Đồng thời, Toà án đã thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định về việc đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đối với ông Phạm Văn Toàn, nhưng ông Phạm Văn Toàn không có ý kiến phản hồi và vắng mặt tại các phiên hoà giải cũng như hai lần mở phiên toà.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang đã căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tòa án đã tiến hành việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.
Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng đảm bảo theo các Điều 171, 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của pháp luật.
- Đối với các đương sự:
+ Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng;
+ Bị đơn, mặc dù đã được Tòa án thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự do pháp luật quy định, nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến, không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71,72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Việc bà Lê Thị Ph yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn T là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho bà Lê Thị Ph được ly hôn với ông Phạm Văn T.
Về con chung: Giao con chung chưa thành niên Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 03/10/2009 cho bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng, ông Phạm Văn T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Đối với con chung Phạm Nhật M, sinh ngày 19/9/2001 đã trên 18 tuổi nên không đề cập đến
Về tài sản chung: Bà Lê Thị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
Về nợ chung: Bà Lê Thị Ph xác định không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn T, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Thôn An Ngãi Đông, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điểu 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
- Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Phạm Văn T tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông Phạm Văn T vấn vắng mặt. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Văn T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ph và ông Phạm Văn T xây dựng gia đình năm 1999 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoà Liên, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thị Ph giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với ông Phạm văn T, lý do là tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét yêu cầu của bà Lê Thị Ph thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng yêu thương, chia sẻ, quan tâm nhau. Tuy nhiên theo bà Ph thì trong thời gian chung sống với nhau giữa bà và ông T không có được những điều đó thể hiện ở việc vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau, ông T có hành vi bạo lực gia đình đánh bà Ph ngoài ra còn chơi đánh bài bạc dẫn đến thiếu nợ nhiều người dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn lại càng thêm khó khăn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đương sự để tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thực hiện được do ông Phạm Văn T không hợp tác, điều này thể hiện ông Phạm Văn T không có thiện chí để hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Lê Thị Ph và ông Phạm Văn T là có thật và đã đến mức độ trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Ph đối với ông Phạm Văn T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị Ph có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 03/10/2009, không yêu cầu ông T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Còn ông Phạm Văn T không có lời khai và ý kiến đối với việc xin nuôi con của bà Lê Thị Ph.
Xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo cuộc sống cũng như tương lai của con chung và điều kiện thực tế của mỗi bên. Hiện tại cháu Phạm Thị Ngọc H đang tuổi phát triển tâm sinh lý nên cần có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Vì vậy cần giao con chung Phạm Thị Ngọc H cho bà Ph chăm sóc nuôi dưỡng. Bà Lê Thị Ph không yêu cầu ông Phạm Văn T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập đến.
Đối với con chung Phạm Nhật M, sinh ngày 19/9/2001 đã trên 18 tuổi nên không đề cập đến
[4] Về tài sản chung: Bà Lê Thị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[5] Về nợ chung: Bà Lê Thị Ph xác định không có nên không đề cập đến.
[6] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Lê Thị Ph phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều: 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị Ph đối với ông Phạm Văn T
Tuyên Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Ph được ly hôn với ông Phạm Văn T.
2.Về quan hệ con chung: Giao con chung Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 03/10/2009 cho bà Lê Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Phạm Văn T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Đối với con chung Phạm Nhật M, sinh ngày 19/9/2001 đã trên 18 tuổi nên không đề cập đến
3.Về tài sản chung: Bà Lê Thị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà Lê Thị Ph xác định không có nên không đề cập đến.
5.Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000₫ bà Lê Thị Ph phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà Phượng đã nộp tại biên lai thu số 0000844 ngày 11/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Như vậy bà Lê Thị Ph đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình;
6.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Khánh |
Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
