|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 10/2024/HS-ST Ngày 11 - 7 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Đình Long;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thảo My
Bà Vũ Thị Ngọc Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Thủy, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Đàm Như Hiển, ông Ma Ngọc Biền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử tầng 01, Tòa án nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ma Bá D, sinh ngày 03/7/1997 tại huyện L, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn N, xã B, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Công B1, sinh năm 1975 và bà Ma Thị T, sinh năm 1977; vợ: Không; Con: 01 con, sinh năm 2017; anh, chị, em ruột: 02 người, bị cáo là thứ nhất.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Bản án số 03/2015/HSST ngày 27/02/2015 của Toà án nhân dân huyện Lâm Bình xử phạt Ma Bá D 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng về tội Trộm cắp tài sản (khi phạm tội D chưa đủ 18 tuổi), án phí HSST 200.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC ngày 07/01/2021 của Công an xã B, huyện L xử phạt Ma Bá D 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc. (Bị cáo chưa chấp hành nhưng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt và không tái phạm nên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
2. Họ và tên: Phùng Thừa T1, sinh ngày 02/02/1996 tại huyện L, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Vinh L, sinh năm 1970 và bà Triệu Thị M, sinh năm 1972; vợ: Chương Thị V, sinh năm 2000 và 02 con: lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2023; anh, chị, em ruột: 04 người, bị cáo là thứ tư.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37/QĐ-XPHC ngày 13/9/2018 của Công an huyện L xử phạt Phùng Thừa T1 2.000.000 đồng về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 11/10/2018.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
3. Họ và tên: Hoàng Văn H, sinh ngày 05/8/1993 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm T, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1951; vợ: Hoàng Thị M1, sinh năm 1989 và 01 con sinh năm 2021; anh, chị, em ruột: 04 người, bị cáo là thứ tư.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Bản án số 07/2024/HSST ngày 30/01/2024, của Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Hoàng Văn H 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án đã có hiệu lực pháp luật).
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
4. Họ và tên: Lý Văn L1, sinh ngày 03/3/2007 tại huyện L, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn K, sinh năm 1974 và bà Triệu Thị V1, sinh năm 1975; vợ, con: Không; anh, chị, em ruột: 02 người, bị cáo là thứ hai.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lý Văn L1:
+ Ông Lý Văn K, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Bà Triệu Thị V1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Bà Ma Thị S, sinh năm 1992 - Bí thư Đoàn xã H, huyện L. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Ma Bá D: Ông Vũ Quang B3 - Luật sư thuộc Công ty L3, Đoàn luật sư tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phùng Thừa T1: Ông Ngô Việt T2 - Luật sư thuộc Công ty L3, Đoàn luật sư tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn L1: Ông Nịnh Hải N - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt.
- Các bị hại:
+ Ông Quan Văn L2, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Ông Bùi Văn T3, sinh năm 1955; Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Bà Chẩu Thị T4, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Ông Lý Văn C, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
+ Ông Mụ Văn T5, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Anh Đặng Phúc C1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
+ Ông Ma Văn H2, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
+ Ông Ma Văn N1, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Hà Thị T6, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Bà Triệu Thị M, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 12/2022 đến ngày 20/12/2023, Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Hoàng Văn H và Lý Văn L1, sinh ngày 03/3/2007 nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn các xã, thị trấn huyện L và huyện N, tỉnh Tuyên Quang, cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng cuối tháng 12/2022, D và T1 rủ nhau đi trộm cắp tài sản, T1 điều khiển xe mô tô biển số 22B2-489.12 của mẹ là bà Triệu Thị M chở D đến khu vực cầu P thuộc xã T, huyện L, thấy một đàn dê không có ai trông coi. T1 dừng xe mô tô đứng cảnh giới, D trộm cắp 01 con dê cái màu nâu, trọng lượng khoảng 10kg của ông Quan Văn L2, sinh năm 1976, cư trú tại thôn N, xã T, huyện L. Sau đó T1 và D mang con dê về nhà T1 mổ ăn.
Lần 2: Khoảng 23 giờ ngày 18/5/2023, với hình thức và thủ đoạn như trên, T1 và D trộm cắp 01 con dê cái màu trắng xám trọng lượng khoảng 20kg của ông Bùi Văn T3, sinh năm 1955, cư trú tại thôn B, xã P, huyện L. Sau đó T1 và D mang con dê về nhà T1 mổ ăn.
Lần 3: Khoảng cuối tháng 5/2023, với hình thức và thủ đoạn như trên, T1 và D trộm cắp 01 con dê cái màu đen trọng lượng khoảng 20kg và 01 con dê cái màu xám trọng lượng khoảng 18kg của ông Bùi Văn T3. Sau đó T1 và D mang 02 con dê trên đến khu vực đỉnh Đ thuộc xã P, huyện L, tại đây T1 bán cho một người đàn ông tên D1 được 2.000.000 đồng, T1 và D chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng. Số tiền trên Tài và D đã chi tiêu cá nhân hết.
Lần 4: Ngày 01/8/2023, với hình thức và thủ đoạn như trên, T1 và D trộm cắp 01 chài đan bằng dây cước dài 2,5m, trọng lượng 4,7kg và 06 con gà mái màu vàng mỗi con trọng lượng khoảng 01kg của bà Chẩu Thị T4, sinh năm 1980, cư trú tại thôn T, xã B, huyện L. Sau đó T1 và D mang về nhà T1, số gà trên Tài đã ăn hết, còn 01 chài T1 để sử dụng.
Lần 5: Ngày 03/8/2023, với hình thức và thủ đoạn như trên, T1 và D trộm cắp 05 con lợn đen, mỗi con trọng lượng khoảng 10kg và 02 bao thóc (loại thóc Hòa P) mỗi bao trọng lượng khoảng 40kg của bà Chẩu Thị T4, quá trình T1 và D mang lợn ra vị trí để xe mô tô thì 02 con lợn thoát ra và tự chạy về chuồng. Sau đó T1 bán 03 con lợn cho một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ được 2.450.000 đồng, T1 chia cho D 1.000.000 đồng, còn 02 bao thóc T1 mang về nhà ăn hết. Số tiền trên Tài và D đã chi tiêu cá nhân hết.
Lần 6: Ngày 16/9/2023, với hình thức và thủ đoạn như trên, T1 và D trộm cắp 01 con dê cái màu vàng, trọng lượng khoảng 15kg và 01 con dê đực màu đen, trọng lượng khoảng 30kg của ông Lý Văn C, sinh năm 1977, cư trú tại thôn B, xã P, huyện L. Sau đó T1 và D mang 02 con dê đến khu vực Đ thuộc xã P, huyện L, tại đây T1 bán cho người đàn ông tên D1 được 2.500.000 đồng, T1 chia cho D 1.250.000 đồng. Số tiền trên Tài và D đã chi tiêu cá nhân hết.
Lần 7: Tối ngày 26/9/2023, D rủ Lý Văn L1 (thời điểm này L1 được 16 tuổi 06 tháng 23 ngày) và H đi trộm cắp tài sản, L1 và H đồng ý nên D gọi điện rủ T1 đi trộm cắp tài sản cùng nhưng T1 không đi mà chỉ thỏa thuận với D về việc sau khi D trộm cắp được tài sản sẽ cùng D đi bán. Sau đó D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda (không rõ biển số) của L1 chở L1, còn H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda (không rõ biển số) của H đi đến khu vực Bản C
thuộc thôn N, xã T, huyện L thì quan sát thấy chuồng dê của ông Mụ Văn T5, sinh năm 1968, cư trú tại thôn N, xã T, huyện L không có người trông coi nên L1 đứng cảnh giới để D và H trộm cắp 01 con dê cái màu đen trọng lượng khoảng 22kg và 01 con dê đực màu xám, trọng lượng khoảng 25kg. Sau đó cả 03 mang 02 con dê trộm cắp được đến nhà đón T1 rồi đi đến khu vực Đ thuộc xã P, huyện L, tại đây T1 bán 02 con dê trộm cắp được cho người đàn ông tên D1 được 1.800.000 đồng. D, L1, H chia nhau mỗi người được 500.000 đồng, T1 được 300.000 đồng. Số tiền trên D, L1, H, T1 đã chi tiêu cá nhân hết.
Lần 8: Khoảng 23 giờ ngày 02/11/2023, với hình thức và thủ đoạn như trên Tài, D và L1 trộm cắp 02 con dê đực màu đen, mỗi con trọng lượng khoảng 15kg của bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983, cư trú tại tổ dân phố N, thị trấn L, huyện L. Sau đó T1, D và L1 mang 02 con dê đến khu vực Đ thuộc xã P, huyện L, tại đây T1 bán cho người đàn ông tên D1 được 1.500.000 đồng, T1 chia cho D và Lập mỗi người 500.000 đồng. Số tiền trên Tài, D và L1 đã chi tiêu cá nhân hết.
Lần 9: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 15/11/2023, T1 rủ D và H đi trộm cắp tài sản thì D và H đồng ý. D và H đi xe mô tô nhãn hiệu Honda (không rõ biển số) của H đến khu vực thôn T, xã P, huyện L thì quan sát thấy chuồng dê của anh Đặng Phúc C1, sinh năm 1994, cư trú tại thôn T, xã P, huyện L có khoảng 07 - 08 con dê, không có người trông coi nên H gọi điện thoại cho T1 thông báo và cùng D trộm cắp 01 con dê đực màu đen nặng khoảng 35kg, sau đó D và H chở 01 con dê vừa trộm cắp được đến khu vực Đ thuộc xã P, huyện L thì H ở lại trông dê còn D điều khiển xe mô tô quay lại chuồng dê của anh Đặng Phúc C1 để tiếp tục cùng T1 trộm cắp dê, trên đường Đ gặp T1 điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 22B2 - 489.12 phía sau có lồng sắt kích thước (80x60x42)cm rồi D và T1 trộm cắp 03 con dê (01 con dê cái màu vàng trọng lượng khoảng 14kg; 01 con dê cái màu trắng trọng lượng khoảng 25kg; 01 con dê đực màu trắng trọng lượng khoảng 14kg) cho vào lồng sắt trên xe mô tô của T1 và đi đến chỗ H đứng đợi, tại đây T1 bán 04 con dê vừa trộm cắp được cho người đàn ông tên D1 được 3.200.000 đồng. T1 chia cho D 1.000.000 đồng, H 1.100.000 đồng. Số tiền trên Tài, D và H đã chi tiêu cá nhân hết.
Lần 10: Khoảng cuối tháng 11/2023, với hình thức và thủ đoạn như trên, tại khu vực thôn B, xã P, huyện L, T1, D và H trộm cắp 03 con dê (01 con dê đực màu đen trọng lượng khoảng 35kg; 02 con dê cái màu nâu mỗi con trọng lượng khoảng 20kg) của ông Ma Văn H2, sinh năm 1977, cư trú tại thôn N, xã N, huyện N đang ngủ cạnh đường. Sau đó T1, D và H mang 03 con dê trộm cắp được đến khu vực Đ thuộc xã P, huyện L, tại đây T1 bán cho người đàn ông tên D1 được 2.500.000 đồng, T1 chia cho D và H mỗi người 1.000.000 đồng. Số tiền trên Tài, D và H đã chi tiêu cá nhân hết.
Lần 11: Khoảng 18 giờ ngày 20/12/2023, D điều khiển xe mô tô biển số 29S6 - 930.16 của chị Hà Thị T6, sinh năm 2004, cư trú tại thôn B, xã M, huyện L (chị T6 không biết D lấy xe mô tô đi đâu), chở L1 đi từ huyện N về nhà, khi đi đến khu vực tổ dân phố F, thị trấn N, huyện N, D quan sát thấy có 01 trang trại không có người trông coi nên D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân và rủ L1 (thời điểm này L1 được 16 tuổi 9 tháng 17 ngày) cùng trộm cắp, L1 đồng ý. Sau đó D và L1 quay lại thị trấn N, huyện N mua 02 bao tải dứa màu cam với giá 10.000 đồng rồi đi đến khu vực trang trại trên trộm cắp 01 con dê cái màu nâu trọng lượng 20kg và 03 con gà mái có tổng trọng lượng 05kg của ông Ma Văn N1, sinh năm 1966, cư trú tại tổ dân phố F, thị trấn N, huyện N cho vào bao tải đã mua trước đó rồi D điều khiển xe mô tô chở L1 và tài sản trộm cắp về nhà, khi đến gần Trạm Kiểm lâm cửa rừng P thuộc thôn B, xã P, huyện L, D quan sát thấy có lực lượng Công an đang làm việc, do sợ bị phát hiện nên D quay xe lại khoảng 400m để tài sản trộm cắp được tại rãnh thoát nước bên đường rồi điều khiển xe mô tô đi qua Trạm Kiểm lâm cửa rừng xã P thì gặp tổ công tác Công an huyện L và Công an xã P tuần tra phát hiện lập biên bản xác minh thu giữ 01 con dê đã bị chết và 03 con gà do D, L1 trộm cắp.
Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-ĐGTS, ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: 01 con dê cái màu nâu trọng lượng khoảng 10kg, tại thời điểm tháng 12/2022 có giá trị 1.200.000 đồng; 01 con dê cái màu trắng xám trọng lượng khoảng 20kg, tại thời điểm tháng 5/2023 có giá trị 2.400.000 đồng; 01 con dê đực màu xám trọng lượng khoảng 25kg và 01 con dê cái màu đen trọng lượng khoảng 22kg, tại thời điểm tháng 9/2023 có tổng giá trị 6.140.000 đồng; 01 con dê đực màu đen trọng lượng khoảng 30kg và 01 con dê cái màu vàng trọng lượng khoảng 15kg, tại thời điểm tháng 9/2023, có tổng giá trị 6.000.000 đồng; 02 con dê đực màu đen mỗi con có trọng lượng khoảng 15kg, tại thời điểm tháng 11/2023 có tổng giá trị 3.600.000 đồng; 01 con dê đực màu đen trọng lượng khoảng 35kg; 01 con dê cái màu vàng, trọng lượng khoảng 14kg; 01 con dê cái màu trắng trọng lượng khoảng 25kg và 01 con dê đực màu trắng trọng lượng khoảng 14kg, tại thời điểm tháng 11/2023 có tổng giá trị 11.760.000 đồng; 02 con dê cái màu nâu mỗi con có trọng lượng khoảng 20kg và 01 con dê đực màu đen trọng lượng khoảng 35kg, tại thời điểm tháng 11/2023 có tổng giá trị là 9.700.000 đồng; 01 con dê cái màu nâu trọng lượng 20kg và 03 con gà mái tổng trọng lượng 05kg, tại thời điểm tháng 12/2023 có tổng giá trị 3.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số: 04/KL - ĐGTS, ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: 01 Chài bằng dây cước, dài 2,5m, trọng lượng 4,7kg, tại thời điểm tháng 8/2023 có giá trị 1.700.000 đồng; 06 con Gà mái màu vàng, mỗi con trọng lượng khoảng 01kg, tại thời điểm tháng 8/2023 có tổng giá trị 780.000 đồng; 05 con Lợn đen, mỗi con trọng lượng khoảng 10kg, tại thời điểm tháng 8/2023 có tổng giá trị 5.000.000 đồng; 02 bao thóc, loại thóc tẻ Hòa Phát mỗi bao trọng lượng 40kg, tại thời điểm tháng 8/2023 có tổng giá trị 640.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số: 05/KL - ĐGTS, ngày 02/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: 01 con dê cái màu đen, trọng lượng khoảng 20kg, tại thời điểm tháng 5/2023 có giá trị 2.400.000 đồng; 01 con dê cái màu xám, trọng lượng khoảng 18kg, tại thời điểm tháng 5/2023 có giá trị 2.160.000 đồng.
Như vậy, bị cáo Ma Bá D thực hiện 11 lần trộm cắp tài sản với tổng giá trị 56.480.000 đồng; Phùng Thừa T1 thực hiện 10 lần trộm cắp tài sản với tổng giá trị 53.480.000 đồng; Hoàng Văn H thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản với tổng giá trị 27.600.000 đồng; Lý Văn L1 thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản với tổng giá trị 12.740.000 đồng.
* Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã tạm giữ: 01 con dê cái màu nâu trọng lượng 20kg đã chết và 03 con gà mái có tổng trọng lượng 05kg, 01 xe mô tô biển số 29S6 - 930.16; 02 bao tải dứa màu cam kích thước (55x88)cm, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng nhạt của Ma Bá D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A04, màu xanh, lắp 01 sim số thuê bao 0969.810.713 của Lý Văn L1; 01 xe mô tô biển số 22B2 - 489.12; 01 đèn pin loại đeo đầu màu đen, 01 lồng sắt kích thước (80x60x42)cm, 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS màu vàng, lắp sim số 0354138820 của Phùng Thừa T1; 01 Chài được đan bằng dây cước dài 2,5m, trọng lượng 4,7kg của Phùng Thừa T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu đen, lắp 01 sim số 0961.808.402 của Hoàng Văn H.
Ngày 21/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại 01 con dê cái màu nâu trọng lượng 20kg đã chết và 03 con gà mái có tổng trọng lượng 05kg cho bị hại ông Ma Văn N1. Ngày 14/5/2024 trả lại 01 Chài cho bị hại bà Chẩu Thị T4; 01 xe mô tô biển số 29S6 - 930.16 cho chị Hà Thị T6; 01 xe mô tô biển số 22B2 - 489.12 cho bà Triệu Thị M.
* Về dân sự: Các bị hại Đặng Phúc C1, Mụ Văn T5, Quan Văn L2, Lý Văn C, Ma Văn H2, Bùi Văn T3 yêu cầu các bị cáo bồi thường các tài sản bị mất trộm theo kết luận định giá tài sản.
Bị hại Ma Văn N1 yêu cầu bị cáo D và L1 bồi thường số tiền 2.200.000 đồng do con dê cái bị chết.
Bị hại Chẩu Thị Thân yêu cầu bị cáo T1 và D bồi thường số tiền 4.420.000 đồng (gồm 06 con gà 780.000 đồng; 03 con lợn 3.000.000 đồng; 02 bao thóc 640.000 đồng), bị cáo T1 đã tác động gia đình bồi thường cho bà T4 số tiền 2.200.000 đồng.
Bị hại Nguyễn Thị H1 yêu cầu các bị cáo D, T1, L1 bồi thường số tiền 3.600.000 đồng, bị cáo T1 đã tác động gia đình bồi thường cho bà H1 số tiền 1.200.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Hoàng Văn H, Lý Văn L1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, lời khai các bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Trên cơ sở hành vi của các bị cáo, ngày 31/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình đã ban hành cáo trạng số 11/CT-VKSLB, truy tố các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1 về tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Hoàng Văn H, Lý Văn L1 về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị hại Mụ Văn T5, Quan Văn L2, Bùi Văn T3, Ma Văn N1, Chẩu Thị T4, Nguyễn Thị H1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại các tài sản bị mất trộm theo kết luận định giá tài sản. Do bị cáo Phùng Thừa đ đã bồi thường cho bà T4 số tiền 2.200.000 đồng và bồi thường cho bà H1 số tiền 1.200.000 đồng nên bị hại bà T4, bà H1 không yêu cầu giải quyết vê dân sự đối với bị cáo T1. Bị hại Chẩu Thị Thân yêu cầu bị cáo Ma Bá D bồi thường số tiền 2.220.000 đồng. Bị hại Nguyễn Thị H1 yêu cầu các bị cáo D, L1 bồi thường số tiền 2.400.000 đồng.
Các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1 và ông Lý Văn C thỏa thuận mỗi bị cáo bồi thường cho ông Lý Văn C số tiền 3.000.000đ; bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Hoàng Văn H và anh Đặng Phúc C1 thỏa thuận mỗi bị cáo bồi thường cho anh Đặng Phúc C1 số tiền 3.920.000đ; bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Hoàng Văn H và ông Ma Văn H2 thỏa thuận mỗi bị cáo bồi thường cho ông H2 số tiền 3.233.300đ.
Các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Lý Văn L1 nộp đơn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm. Lý do miễn: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Hoàng Văn H, Lý Văn L1 phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Về hình phạt chính:
+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ma Bá D từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/02/2024.
+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Thừa T1 từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/02/2024.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/02/2024.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn L1 từ 07 tháng đến 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định; không có tài sản riêng có giá trị; bị cáo L1 là người dưới 18 tuổi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng còn giá trị sử dụng là phương tiện trợ giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng nhạt của Ma Bá D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS màu vàng, lắp sim số 0354138820 của Phùng Thừa T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu đen, lắp 01 sim số 0961.808.402 của Hoàng Văn H.
+ Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng: 02 bao tải dứa màu cam kích thước (55x88)cm; 01 đèn pin loại đeo đầu màu đen; 01 lồng sắt kích thước (80x60x42)cm.
+ Trả lại vật chứng không trực tiếp sử dụng vào hành vi phạm tội, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A04, màu xanh, lắp 01 sim số thuê bao 0969.810.713 của Lý Văn L1 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự:
Công nhận sự thỏa thuận về việc bồi thường dân sự giữa các bị hại Đặng Phúc C1, Lý Văn C, Ma Văn H2 với các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Hoàng Văn H, cụ thể: Ma Bá D bồi thường cho Lý Văn C 3.000.000 đồng, Đặng Phúc C1 3.920.000 đồng, Ma Văn H2 3.233.300 đồng; Phùng Thừa T1 bồi thường cho Lý Văn C 3.000.000 đồng, Đặng Phúc C1 3.920.000 đồng, Ma Văn H2 3.233.300 đồng; Hoàng Văn H bồi thường cho Đặng Phúc C1 3.920.000 đồng, Ma Văn H2 3.233.300 đồng.
Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự buộc các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường như sau:
+ Bị cáo Ma Bá D có trách nhiệm bồi thường cho ông Quan Văn L2 600.000 đồng; bồi thường cho ông Bùi Văn T3 số tiền 3.480.000 đồng; bồi thường cho bà Chẩu Thị T4 số tiền 2.220.000 đồng; bồi thường cho ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng; bồi thường cho bà Nguyễn Thị H1 số tiền 1.200.000 đồng; bồi thường cho ông Ma Văn N1 số tiền 1.100.000 đồng.
+ Bị cáo Phùng Thừa T1 có trách nhiệm bồi thường cho ông Quan Văn L2 số tiền 600.000 đồng; bồi thường cho ông Bùi Văn T3 số tiền 3.480.000 đồng; bồi thường cho ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng.
+ Bị cáo Hoàng Văn H có trách nhiệm bồi thường cho ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng.
+ Bị cáo Lý Văn L1 có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị H1 1.200.000 đồng, bồi thường cho ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng; bồi thường cho ông Ma Văn N1 số tiền 1.100.000 đồng. Do bị cáo L1 là người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì bố, mẹ của bị cáo là ông Lý Văn K và bà Triệu Thị V1 phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Lý Văn L1; buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo Lý Văn L1, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Lý Văn L1 nhất trí với nội dung Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo Phùng Thừa T1 tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại Nguyễn Thị H1, Chẩu Thị T4. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Ma Bá D, Lý Văn L1; áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 BLHS cho bị cáo T1 được hưởng dưới khung hình phạt. Xem xét, xử phạt các bị cáo D, L1 ở mức thấp nhất của khung hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị.
Đại diện viện kiểm sát không nhất trí với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Phùng Thừa T1 về việc đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo T1 dưới khung hình phạt vì không đủ căn cứ để áp dụng.
Các bị cáo, người đại diện của bị cáo L1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các bị hại nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận. Kết thúc phần tranh luận, nói lời sau cùng các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị cáo L1 là ông Lý Văn K, bà Triệu Thị V1 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và đã có người đại diện hợp pháp bà Ma Thị S - Bí thư Đoàn xã H tham gia phiên tòa. Các bị hại ông Quan Văn L2, ông Bùi Văn T3, ông Mụ Văn T5, bà Chẩu Thị T4, bà Nguyễn Thị H1, ông Ma Văn N1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị T6 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và đã có lời khai tại cơ quan điều tra, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về hành vi: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12/2022 đến ngày 20/12/2023, tại địa bàn huyện L và huyện N, tỉnh Tuyên Quang, Ma Bá D, sinh năm 1997, cư trú tại thôn N, xã B, huyện L đã 11 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị 56.480.000 đồng; Phùng Thừa T1, sinh năm 1996, cư trú tại thôn V, xã T, huyện L đã 10 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị 53.480.000 đồng; Hoàng Văn H, sinh năm 1993, cư trú tại xóm T, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị 27.600.000 đồng và Lý Văn L1, sinh ngày 03/3/2007, cư trú tại thôn K, xã H, huyện L đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị 12.740.000 đồng. Cụ thể:
Lần 1: Khoảng 23 giờ cuối tháng 12/2022, T1 và D trộm cắp 01 con dê cái màu nâu, trọng lượng khoảng 10kg trị giá 1.200.000 đồng của ông Quan Văn L2, cư trú tại thôn N, xã T, huyện L.
Lần 2: Khoảng 23 giờ ngày 18/5/2023, T1 và D trộm cắp 01 con dê cái màu trắng xám, trọng lượng khoảng 20kg trị giá 2.400.000 đồng của ông Bùi Văn T3, cư trú tại thôn B, xã P, huyện L.
Lần 3: Khoảng 23 giờ cuối tháng 5/2023, T1 và D trộm cắp 01 con dê cái màu đen, trọng lượng khoảng 20kg và 01 con dê cái màu xám trọng lượng khoảng 18kg, có tổng giá trị 4.560.000 đồng của ông Bùi Văn T3, cư trú tại thôn B, xã P, huyện L.
Lần 4: Khoảng 23 giờ ngày 01/8/2023, tại nhà chị Hoàng Thu H3, cư trú tại thôn T, xã B, huyện L, T1 và D trộm cắp 01 chài đan bằng dây cước, 06 con gà mái màu vàng mỗi con trọng lượng khoảng 01kg, có tổng giá trị 2.480.000 đồng của bà Chẩu Thị T4, cư trú tại thôn T, xã B, huyện L.
Lần 5: Khoảng 23 giờ ngày 03/8/2023, tại nhà chị Hoàng Thu H3, cư trú tại thôn T, xã B, huyện L, T1 và D trộm cắp 05 con lợn đen, mỗi con trọng lượng khoảng 10kg và bị xổng hai con; 02 bao thóc (loại thóc Hòa P), mỗi bao trọng lượng 40kg, có tổng giá trị 5.640.000 đồng của bà Chẩu Thị T4.
Lần 6: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 16/9/2023, T1 và D trộm cắp 02 con dê (01 con dê cái màu đen trọng lượng khoảng 15kg; 01 con dê đực màu vàng trọng lượng khoảng 30kg) có tổng giá trị 6.000.000 đồng của ông Lý Văn C, cư trú tại thôn B, xã P, huyện L.
Lần 7: Khoảng 23 giờ ngày 26/9/2023, D, L1 và H trộm cắp 02 con dê (01 con dê cái màu đen trọng lượng khoảng 22kg; 01 con dê đực màu xám trọng lượng khoảng 25kg) có tổng giá trị 6.140.000 đồng của ông Mụ Văn T5, cư trú tại thôn N, xã T, huyện L, T1 không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp dê cùng D, L1, H nhưng trước khi D, L1, H thực hiện hành vi trộm cắp dê, T1 đã thoả thuận đem dê trộm cắp được đi bán và được hưởng lợi số tiền 300.000 đồng từ việc bán dê.
Lần 8: Khoảng 23 giờ ngày 02/11/2023, D, T1, L1 trộm cắp 02 con dê đực màu đen, mỗi con trọng lượng khoảng 15kg, có tổng giá trị 3.600.000 đồng của bà Nguyễn Thị H1, cư trú tại tổ dân phố N, thị trấn L, huyện L.
Lần 9: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 15/11/2023, T1, D và H trộm cắp 04 con dê (01 con dê đực nặng khoảng 35kg; 01 con dê cái màu vàng trọng lượng khoảng 14kg; 01 con dê cái màu trắng trọng lượng khoảng 25kg; 01 con dê đực màu trắng trọng lượng khoảng 14kg) có tổng giá trị 11.760.000 đồng của ông Đặng Phúc C1, cư trú tại khu vực thôn T, xã P, huyện L.
Lần 10: Khoảng cuối tháng 11/2023, T1, D và H trộm cắp 03 con dê (01 con dê đực màu đen trọng lượng khoảng 35kg; 02 con dê cái màu nâu mỗi con trọng lượng khoảng 20kg) tại khu vực thôn B, xã P, huyện L, có tổng giá trị 9.700.000 đồng của ông Ma Văn H2, cư trú tại thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang.
Lần 11: Khoảng 18 giờ ngày 20/12/2023, D và L1 trộm cắp 01 con dê cái màu nâu trọng lượng 20kg và 03 con gà mái tổng trọng lượng 05kg, có tổng giá trị 3.000.000 đồng của ông Ma Văn N1, cư trú tại tổ dân phố F, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang.
Cáo trạng truy tố các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1 về tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Hoàng Văn H, Lý Văn L1 về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật hình sự bảo vệ. Các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại để trộm cắp tài sản phục vụ nhu cầu của bản thân; hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, gây mất trật tự trị an tại địa phương một thời gian dài. Các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Hoàng Văn H là người có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do ham chơi, lười lao động, thích hưởng thụ, coi thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo cùng nhau thực hiện một tội phạm, nhưng hành vi của các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, không có người chủ mưu, cầm đầu, nên không có căn cứ xác định các bị cáo phạm tội có tổ chức. Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự. Cần xét nhân thân, phân hóa vai trò của các bị cáo để xử lý cho phù hợp.
Xét vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Ma Bá D là người nhiều lần khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác trong đó có bị cáo L1 chưa đủ 18 tuổi cùng thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo có 11 lần trực tiếp tham gia thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, bị cáo giữ vai trò chính, cao nhất trong vụ án.
Bị cáo Phùng Thừa T1 cũng có 02 lần khởi xướng, rủ rê bị cáo D, nhiều lần cùng thống nhất với các bị cáo, chuẩn bị bao tải dứa, sử dụng xe máy của mẹ bị cáo để chở các bị cáo khác, chở dê đi bán, trực tiếp tham gia thực hiện hành vi trộm cắp, là người liên hệ với người mua dê để bán dê đã trộm cắp được và chia tiền cho các bị cáo khác. Bị cáo T1 có 10 lần thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, T1 cũng giữ vai trò chính trong vụ án, tuy nhiên thấp hơn bị cáo D.
Bị cáo Hoàng Văn H và Lý Văn L1 đều có có 03 lần thực hiện hành vi phạm tội, khi được bị cáo D, T1 rủ đi trộm cắp tài sản, 2 bị cáo H, L1 đã đồng ý, bị cáo H có một lần chuẩn bị bao tải dứa, bị cáo L1 đứng canh gác, cầm bao tải cho các bị cáo khác thực hiện hành vi trộm cắp. Vì vậy tính chất, vị trí, vai trò của 2 bị cáo trong vụ án là thứ yếu, thấp hơn bị cáo D, T1.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo bị áp dụng tình tiết Phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Ma Bá D bị áp dụng tình tiết Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội, theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Đối với bị cáo Ma Bá D, Lý Văn L1: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, bị cáo Ma Bá D, Lý Văn L1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Đối với bị cáo Phùng Thừa T1: Đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị hại Nguyễn Thị H1, Chẩu Thị T4 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, bị cáo Phùng Thừa T1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Đối với bị cáo Hoàng Văn H: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo Hoàng Văn H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt chính: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Đối với bị cáo Ma Bá D: Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù về hành vi Trộm cắp tài sản sau đó bị cáo còn bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng chưa chấp hành nộp phạt. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này bị cáo là người giữ vai trò chính, rủ các bị cáo khác thực hiện hành vi trộm cắp, chuẩn bị bao tải và trực tiếp tham gia trộm cắp nhiều lần, nhiều tài sản có giá trị trong khoảng thời gian dài gây bức xúc cho người dân tại địa phương. Bên cạnh đó, bị cáo còn rủ rê, xúi giục bị cáo Lý Văn L1 là người dưới 18 tuổi phạm tội. HĐXX xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo và có căn cứ.
- Đối với bị cáo Phùng Thừa T1: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có 01 tình tiết tăng nặng, nhân thân xấu. Năm 2018, bị cáo từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Xâm hại sức khỏe của người khác. Bị cáo cũng nhiều lần rủ rê các bị cáo đi trộm cắp và trực tiếp tham gia trộm cắp tài sản, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội, có 02 lần bị cáo không trực tiếp tham gia trộm cắp tài sản nhưng thống nhất với các bị cáo khác khi trộm cắp được tài sản bị cáo sẽ mang đi bán và nhiều lần trực tiếp bán tài sản trộm cắp được và chia tiền cho các bị cáo khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình gây thiệt hại cho các bị hại nên đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục một phần hậu quả cho 02 bị hại và được 02 bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Xét tính chất, vai trò và hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
+ Đối với bị cáo Hoàng Văn H: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Có 01 tình tiết tăng nặng, nhân thân xấu. Ngày 14/10/2023, bị cáo bị công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên khởi tố về hành vi Trộm cắp tài sản và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 30/01/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Như vậy, trong thời gian bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục đến địa bàn huyện L, huyện N để thực hiện hành vi trộm cắp cho thấy ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Tại thời điểm xét xử, bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 30/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản đã có hiệu lực pháp luật nên cần tổng hợp hình phạt của bản án này.
+ Đối với bị cáo Lý Văn L1: Bị cáo không có tiền án tiền sự, có 01 tình tiết tăng nặng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị bị cáo D rủ rê. Bị cáo tuổi còn trẻ nhưng không chịu học tập, rèn luyện, tu dưỡng bản thân và đã bỏ học. Khi được rủ rê đã nhiều lần lợi dụng sơ hở của bị hại, cùng các bị cáo khác thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm phục vụ nhu cầu bản thân. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Lý Văn L1 chưa đủ 18 tuổi; các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
- Công nhận sự thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại giữa các bị hại Đặng Phúc C1, Lý Văn C, Ma Văn H2 với các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Hoàng Văn H, cụ thể: Ma Bá D bồi thường cho Lý Văn C 3.000.000 đồng, Đặng Phúc C1 3.920.000 đồng, Ma Văn H2 3.233.300 đồng; Phùng Thừa T1 bồi thường cho Lý Văn C 3.000.000 đồng, Đặng Phúc C1 3.920.000 đồng, Ma Văn H2 3.233.300 đồng; Hoàng Văn H bồi thường cho Đặng Phúc C1 3.920.000 đồng, Ma Văn H2 3.233.300 đồng.
- Buộc các bị cáo tham gia từng lần trộm cắp gây thiệt hại cho các bị hại có trách nhiệm bồi thường như sau:
+ Bị cáo Ma Bá D có trách nhiệm bồi thường cho ông Quan Văn L2 số tiền 600.000 đồng; ông Bùi Văn T3 số tiền 3.480.000 đồng; bà Chẩu Thị T4 số tiền 2.220.000 đồng; ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng; bà Nguyễn Thị H1 số tiền 1.200.000 đồng, ông Ma Văn N1 số tiền 1.100.000 đồng.
+ Bị cáo Phùng Thừa T1 có trách nhiệm bồi thường cho ông Quan Văn L2 số tiền 600.000 đồng; ông Bùi Văn T3 số tiền 3.480.000 đồng; ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng.
+ Bị cáo Hoàng Văn H có trách nhiệm bồi thường cho ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng.
+ Bị cáo Lý Văn L1 có trách nhiệm bồi thường cho ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng; bà Nguyễn Thị H1 số tiền 1.200.000 đồng; ông Ma Văn N1 số tiền 1.100.000 đồng. Nếu bị cáo không đủ tài sản đề bồi thường thì ông Lý Văn K và bà Triệu Thị V1 (bố, mẹ của bị cáo L1) phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
[8]. Về vật xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Đối với 03 điện thoại di động còn giá trị sử dụng gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng nhạt của Ma Bá D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS màu vàng, lắp sim số 0354138820 của Phùng Thừa T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu đen, lắp 01 sim số 0961.808.402 của Hoàng Văn H là phương tiện để được các bị cáo sử dụng liên lạc nhằm rủ rê, bàn bạc, thống nhất thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 bao tải dứa màu cam kích thước (55x88)cm; 01 đèn pin loại đeo đầu màu đen; 01 lồng sắt kích thước (80x60x42)cm là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A04, màu xanh, lắp 01 sim số thuê bao 0969.810.713 của Lý Văn L1, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[9]. Về các vấn đề khác:
Đối với 02 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu trắng, không rõ biển số của bị cáo Hoàng Văn H và Lý Văn L1 được sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra không thu giữ được nên không có căn cứ xem xét, xử lý.
Đối với người đàn ông mua lợn và người đàn ông tên D1 mua dê của các bị cáo, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi địa chỉ nên không có căn cứ xem xét xử lý.
Đối với chị Hà Thị T6 và bà Triệu Thị M, không biết Ma Bá D và Phùng Thừa T1 lấy xe mô tô của mình đi trộm cắp tài sản nên không đề cập xử lý.
[10]. Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Lý Văn L1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (Lý do miễn: Là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí); Bị cáo Hoàng Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá nghạch; bị cáo, người bào chữa của bị cáo Lý Văn L1, người đại diện của bị cáo L1, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1 phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn H, Lý Văn L1 phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ma Bá D 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/02/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Thừa T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/02/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58, điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo Hoàng Văn H phải chấp hành hình phạt là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/02/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn L1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự:
* Công nhận sự thỏa thuận của các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1 và ông Lý Văn C về việc bồi thường thiệt hại:
- Bị cáo Ma Bá D có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lý Văn C số tiền 3.000.000₫.
- Bị cáo Phùng Thừa T1 có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lý Văn C số tiền 3.000.000₫.
* Công nhận sự thỏa thuận của các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Hoàng Văn H và anh Đặng Phúc C1 về việc bồi thường thiệt hại:
- Bị cáo Ma Bá D có nghĩa vụ bồi thường cho anh Đặng Phúc C1 số tiền 3.920.000₫.
- Bị cáo Phùng Thừa T1 có nghĩa vụ bồi thường cho anh Đặng Phúc C1 số tiền 3.920.000₫.
- Bị cáo Hoàng Văn H có nghĩa vụ bồi thường cho anh Đặng Phúc C1 số tiền 3.920.000đ.
* Công nhận sự thỏa thuận của các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Hoàng Văn H và ông Ma Văn H2 về việc bồi thường thiệt hại:
- Bị cáo Ma Bá D có nghĩa vụ bồi thường cho ông Ma Văn H2 số tiền 3.233.300₫.
- Bị cáo Phùng Thừa T1 có nghĩa vụ bồi thường cho ông Ma Văn H2 số tiền 3.233.300đ.
- Bị cáo Hoàng Văn H có nghĩa vụ bồi thường cho ông Ma Văn H2 số tiền 3.233.300đ.
* Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự buộc các bị cáo có trách nhiệm bồi thường như sau:
+ Bị cáo Ma Bá D có trách nhiệm bồi thường cho ông Quan Văn L2 số tiền 600.000 đồng; ông Bùi Văn T3 số tiền 3.480.000 đồng; bà Chẩu Thị T4 số tiền 2.220.000 đồng; ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng; bà Nguyễn Thị H1 số tiền 1.200.000 đồng, ông Ma Văn N1 số tiền 1.100.000 đồng.
+ Bị cáo Phùng Thừa T1 có trách nhiệm bồi thường cho ông Quan Văn L2 số tiền 600.000 đồng; ông Bùi Văn T3 số tiền 3.480.000 đồng; ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng.
+ Bị cáo Hoàng Văn H có trách nhiệm bồi thường cho ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng.
+ Bị cáo Lý Văn L1 có trách nhiệm bồi thường cho ông Mụ Văn T5 số tiền 1.535.000 đồng; bà Nguyễn Thị H1 số tiền 1.200.000 đồng; ông Ma Văn N1 số tiền 1.100.000 đồng. Nếu bị cáo không đủ tài sản đề bồi thường thì ông Lý Văn K và bà Triệu Thị V1 (bố, mẹ của bị cáo L1) phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng nhạt của Ma Bá D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS màu vàng, lắp sim số 0354138820 của Phùng Thừa T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu đen, lắp 01 sim số 0961.808.402 của Hoàng Văn H.
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 bao tải dứa màu cam kích thước (55x88)cm; 01 đèn pin loại đeo đầu màu đen; 01 lồng sắt kích thước (80x60x42)cm.
+ Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A04, màu xanh, lắp 01 sim số thuê bao 0969.810.713 cho Lý Văn L1 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 31/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Bình).
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho các bị cáo Ma Bá D, Phùng Thừa T1, Lý Văn L1. Bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 434.415 đồng (bốn trăm ba mươi tư nghìn bốn trăm mười lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Lý Văn L1, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/7/2024). Người đại diện của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nghiêm Đình Long |
Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 10/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ma Bá D và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
