|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày: 11-06-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Thới.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Rmah Et và bà Nguyễn Thị Huê
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Diệu Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 06 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Chí B, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2003, tại Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện P, Gia Lai; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông Trần Chí D, sinh năm 1976 và bà Đinh Thị N, sinh năm 1983; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Lê Trần Lệ H, sinh năm 2004; Trú tại: Thôn T, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lại Thanh C, sinh năm 1997; Trú tại: Thôn I, xã C, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Anh Đỗ Xuân Q, sinh năm 2001; Trú tại: Tổ F, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2022, Trần Chí B, sinh năm 2003 (trú tại Thôn T, xã I, P, Gia Lai) có quen biết và phát sinh tình cảm với chị Lê Trần Lệ H, sinh năm 2004 (trú tại Thôn T, xã I, P, Gia Lai).
Đêm ngày 10/7/2023, B rủ chị H đến Nhà nghỉ P ở Tổ dân phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai để quan hệ tình dục và được H đồng ý. Khoảng 23h00' cùng ngày, B và H thuê một phòng trong Nhà nghỉ P rồi cả hai đã quan hệ tình dục với nhau. Trong lúc quan hệ tình dục, B sử dụng điện thoại di động hiệu IPhone 12 Promax màu vàng để quay lại cảnh B quan hệ tình dục với H. Đến ngày 14/7/2023, B sử dụng tài khoản của B là “MrMrbin2033” đăng tải 01 đoạn video có độ dài 02 phút 19 giây quay cảnh B đang quan hệ tình dục với chị Lê Trần Lệ H trên ứng dụng Twitter. Ngày 18/7/2023, B tiếp tục sử dụng tài khoản của B là “MrMrbin2033” đăng tải 01 đoạn video có độ dài 02 phút 20 giây quay cảnh B đang quan hệ tình dục với chị Lê Trần Lệ H trên ứng dụng Twitter. Ngày 20/7/2023, B xóa bài đăng 02 đoạn video quay cảnh B đang quan hệ tình dục với chị H trên ứng dụng T, đồng thời xóa luôn tài khoản của B là "MrMrbin2033".
Ngày 27/7/2023, chị Lê Trần Lệ H phát hiện video quay cảnh H đang quan hệ tình dục với Trần Chí B bị phát tán trên mạng xã hội. Chị H cảm thấy bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm nên đã làm đơn trình báo cơ quan Công an.
Làm việc với Cơ quan điều tra, Trần Chí B khai nhận toàn bộ hành vi quay và tự ý đăng video quay cảnh B đang quan hệ tình dục với chị Lê Trần Lệ H trên ứng dụng Twitter, đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động hiệu IPhone 12 Promax màu vàng.
Cơ quan điều tra tiến hành khai thác dữ liệu video trên điện thoại di động hiệu IPhone 12 Promax màu vàng, phát hiện:
- 01 đoạn video bắt đầu lúc 23h28' ngày 10/7/2023 kéo dài 02 phút 21 giây, có dung lượng 182,5 MB (Megabyte) quay cảnhTrần Chí B đang quan hệ tình dục với Lê Trần Lệ H.
- 01 đoạn video bắt đầu lúc 23h35' ngày 10/7/2023 kéo dài 02 phút 24 giây, có dung lượng 261,9MB (Megabyte) quay cảnh Trần Chí B đang quan hệ tình dục với Lê Trần Lệ H.
Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định 02 đoạn video quay cảnh Trần Chí B đang quan hệ tình dục với Lê Trần Lệ H có bị cắt, ghép hay không? Tại Kết luận giám định số 1809 ngày 31/10/2023, của Phân Viện khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng, xác định: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép nội dung hình ảnh trong 02 file video.
Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định 02 đoạn video quay cảnh Trần Chí B đang quan hệ tình dục với Lê Trần Lệ H có phải là văn hóa phẩm đồi trụy hay không? Tại văn bản số 197 ngày 22/01/2024, của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai, xác định: 02 Đoạn video gửi giám định không phải là sản phẩm văn hóa thuộc chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn giám định của Sở.
Ngày 27/11/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Chí B về tội “Làm nhục người khác” theo Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can.
Đối với hành vi đăng tải 02 đoạn video quay cảnhTrần Chí Biên đang quan hệ tình dục với Lê Trần Lệ H trên ứng dụng Twitter của Trần Chí B. Quá trình điều tra xác định 02 đoạn video chưa đủ đủ dung lượng, không xác định được số người được Trần Chí B phổ biến, cho xem đoạn video.
* Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu IPhone 12 Promax màu vàng, do Trần Chí B giao nộp. Vật chứng trên hiện đang bị tạm giữ.
* Về dân sự: Quá trình điều tra, Trần Chí B đã thỏa thuận bồi thường danh dự, nhân phẩm cho chị Lê Trần Lệ H số tiền là 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng). Chị H đã nhận đủ số tiền bồi thường, không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 05 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Trần Chí B về tội “Làm nhục người khác” theo điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Chí B về tội “Làm nhục người khác, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 155; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Chí B từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án.
Về dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường danh dự, nhân phẩm cho chị Lê Trần Lệ H số tiền là 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng). Chị H đã nhận đủ số tiền bồi thường, không có yêu cầu gì thêm, nên không đề nghị giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu IPhone 12 Promax màu vàng, do Trần Chí B giao nộp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản Cáo trạng, thống nhất với tội danh, điều, khoản, điểm và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có khiếu nại, tố cáo gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và lời khai của bị hại; phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định:
Khoảng 23h00' ngày 10/7/2023, Trần Chí B rủ chị Lê Trần lệ H đến Nhà nghỉ P ở Tổ dân phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai để quan hệ tình dục và được H đồng ý. Trong lúc quan hệ tình dục, B sử dụng điện thoại di động quay lại cảnh B quan hệ tình dục với H. Sau đó, B tự ý đăng tải 02 đoạn video quay cảnh B đang quan hệ tình dục với chị H trên ứng dụng T và bạn bè của chị H vô tình xem được đoạn video trên.
Hậu quả từ hành vi của bị can đã thực hiện như đã nêu trên là làm cho người bị hại thấy danh dự của mình bị bôi nhọ, xấu hổ với bạn bè của mình.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của Trần Chí B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm nghiêm trọng tiếp đến danh dự, nhân phẩm của người khác. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm, tương xứng với hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội sau này.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Qua phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đã truy tố theo quy định tại Điều 54 BLHS và đồng thời không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, quản lý, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Trần Chí B đã bồi thường danh dự, nhân phẩm cho chị Lê Trần Lệ H số tiền là 50.000.000đồng. Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu IPhone 12 Promax màu vàng, do Trần Chí B giao nộp hiện đang bị tạm giữ là phương tiện bị cáo sử dụng để quay lại cảnh quan hệ tình Dục với chị Lê Trần Lệ H để đăng lên mạng xã hội. Xét thấy đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6]. Về án phí: Bị cáo Trần Chí B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Chí B phạm tội “Làm nhục người khác”.
- Về vật chứng:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 155; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Chí B 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/06/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Trần Chí B có thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Chí B cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu IPhone 12 Promax màu vàng do Trần Chí B giao nộp. Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 05/3/2024 giữa Cơ quan Điều tra và Cơ quan THADS huyện.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trần Chí B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký ) Phạm Bá Thới |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Rmah Et | Nguyễn Thị Huê | Phạm Bá Thới |
Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm (tội làm nhục người khác)
- Số bản án: 10/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Tội Làm nhục người khác)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Trần Chí Biên 1 năm 3 tháng tù
