|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/01/2024
“V/v Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hạnh
Bà Dương Thị Kim Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 474/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 463/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 331/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1996.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm V, thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Nhật Bản.
- Bị đơn: Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1995.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm Đ, thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Hàn Quốc.
Chị T và anh Đ vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Văn Đ được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương vào ngày 15/8/2022. Sau khi đăng ký kết hôn, do hai vợ chồng cùng đang đi học tại nước ngoài, mỗi người ở một nước nên vợ chồng chưa tổ chức đám cưới và không chung sống cùng nhau. Nay chị và anh Đ tự nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có tương lai nên đã thống nhất đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Đ được ly hôn để cả hai sớm ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Chị và anh Đ không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị Q là mẹ đẻ của anh Đ trình bày: Anh Đ hiện đang làm việc tại Hàn Quốc vẫn thường xuyên liên lạc về với bà nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh Đ nên không cung cấp cho Tòa án được. Bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh Đ được biết toàn bộ nội dung. Quan điểm của anh Đ nhất trí với yêu cầu ly hôn của chị T; Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị T đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, anh Đ đồng ý. Hiện nay anh Đ đang đi làm ở nước ngoài nên anh Đ xin vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa, các văn bản Tòa án gửi cho anh Đ đề nghị gửi cho bà và bà sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh Đ được biết.
Tại phiên tòa: Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn anh Đ vắng mặt tại phiên tòa không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn anh Ngô Văn Đ; Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không giải quyết; Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Hà Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết ly hôn giữa chị và anh Ngô Văn Đ. Anh Đ hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của anh Đ tại Hàn Quốc. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu gia đình anh Đ cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình anh Đ không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định anh Đ vẫn liên lạc về gia đình, được thông báo về việc chị T có đơn khởi kiện xin ly hôn, anh Đ không cung cấp được địa chỉ cho Tòa án. Do vậy, áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh Đ.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Hà Thị T và anh Ngô Văn Đ được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương vào ngày 15/8/2022 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn đến nay, chị T và anh Đ không tổ chức đám cưới và cũng không sống chung với nhau. Chị T xác định hôn nhân không có tương lai nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh Đ. Thông qua gia đình, anh Đ có quan điểm nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị T. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn anh Đ là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị T và anh Đ không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị T phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn với anh Ngô Văn Đ.
- Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0001291 ngày 27/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí).
- Về quyền kháng cáo: Chị Hà Thị T, anh Ngô Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 10/2023/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương về ly hôn
- Số bản án: 10/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn T xin ly hôn Ngô Văn Đ
