|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/DS-PT
Ngày 11-01-2024
“Tranh chấp về quyền sử dụng đất "
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Văn Hà |
| Các Thẩm phán | Ông Trần Văn Thưởng |
| Ông Phan Tiến Dũng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Đoàn Thanh Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 109/2023/TLPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc «Tranh chấp về quyền sử dụng đất".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS -ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 55/2023/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K; cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Bà K ủy quyền cho ông T tham gia tố tụng (theo giấy ủy quyền ngày 13-6-2023). Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Ngọc M; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- -Ông Trần Ngọc H, bà Trần Thị H1; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Bà H1 ủy quyền cho ông H tham gia tố tụng (theo giấy ủy quyền ngày 13-6-2023). Ông H có mặt.
- -Bà Võ Thị P1 (đã chết)
- +Ông Lê Ngọc H2; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
- +Ông Lê Ngọc T1; địa chỉ: Thôn G, xã A, huyện K, tỉnh Gia Lai.
- +Ông Lê Ngọc B; địa chỉ: Thôn G, xã A, huyện K, tỉnh Gia Lai.
- + Ông Lê Ngọc T2; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
- + Bà Lê Thị H3; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
- -Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai; người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Đ là ông Huỳnh Văn H4; chức vụ: Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn là ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lương Ngọc P; địa chỉ: B H, Phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. có mặt.
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà P1:
Người đại diện theo ủy quyền của người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà P1 là ông Lê Ngọc M; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (theo giấy ủy quyền ngày 11-10-2023). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Oanh K trình bày:
- Phía Đông: giáp đường đi xã P.
- Phía Tây: giáp thửa đất số 565, 610 tờ bản đồ số 02.
- Phía Nam: giáp thửa đất số 649 tờ bản đồ số 02.
- Phía Bắc: giáp thửa đất số 528 tờ bản đồ số 02.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
- Bị đơn là ông Lê Ngọc M trình bày:
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc H và bà Trần Thị H1 trình bày:
- Phía Đông: giáp đường đi xã P.
- Phía Tây: giáp thửa đất số 565, 610 tờ bản đồ số 02.
- Phía Nam: giáp thửa đất số 649 tờ bản đồ số 02.
- Phía Bắc: giáp thửa đất số 528 tờ bản đồ số 02.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện Đ trình bày:
Ngày 02/6/2012, vợ chồng ông T và bà K nhận tặng cho quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Trần Ngọc H và bà Trần Thị H1 theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số chứng thực 44, quyển số 01/2012/TP/CC-SCT/HĐGD với diện tích 80m² đất ở và 299m² đất trồng cây lâu năm khác, vị trí tại Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Sau đó, ngày 06/7/2012, ông T và bà K đã được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số BK 964676, thửa số 853, tờ bản đồ số 02, diện tích 379m², đất có tứ cận như sau:
Ông T và bà K cho rằng: Năm 2008 gia đình ông Lê Ngọc M xây dựng nhà ở trái phép trên phần diện tích đất của vợ chồng ông T và bà K được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số BK 964676. Ông M biết phần diện tích mà ông M xây nhà không nằm trong GCNQSDĐ được cấp cho ông M nhưng vẫn cố tình xây nhà trái phép trên phần diện tích đất trên và ở từ đó cho tới nay. Lúc đó ông T và bà K không hề biết phần diện tích đất ông M đang sử dụng là của ông T và bà K được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ.
Trong quá trình ông H và bà H1 làm lại GCNQSDĐ thì bộ phận đo vẽ mới báo cho ông H và bà H1 biết phần diện tích đất thực tế đang sử dụng thiếu quá nhiều so với trong GCNQSDĐ, cụ thể là trong sơ đồ thửa đất thể hiện chiều ngang ở thửa đất của ông H và bà H1 là 47m trong khi đó sơ đồ vị trí nhà, đất tranh chấp thì phần diện tích chiều ngang thực tế của ông H và bà H1 chỉ có 36,79m thiếu 10,21m (thực tế thiếu là 10,15m), phần diện tích đất thiếu hiện tại ông M đã lấn chiếm để xây nhà.
Biết có sự nhầm lẫn nên ông T và bà K đã nhiều lần liên hệ với ông M để thỏa thuận, giải quyết việc lấn chiếm phần diện tích đất trên và yêu cầu ông M bồi thường phần diện tích lấn chiếm theo giá Nhà nước nhưng ông M không chịu bồi thường.
Việc lấn chiếm đất của ông M làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền sử dụng đất, lợi ích của ông T và bà K nên ông T và bà K yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông M phải trả lại phần diện tích đất lấn chiếm theo quy định của pháp luật. Phần diện tích đất lấn chiếm là 317m² (chiều ngang là 10,15m), vị trí đất tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Việc UBND huyện A (cũ) cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Trần K1 vào năm 2000 là đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ cho ông T và bà K đúng quy định của pháp luật. Do đó, việc ông M lấn chiếm đất cất nhà là trái quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông M phải trả lại cho ông T và bà K phần đất lấn chiếm là 317m², thửa đất số 853, tờ bản đồ số 02, vị trí đất tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Buộc ông M phải di chuyển toàn bộ tài sản trên đất để trả lại đất cho ông T và bà K.
Nguồn gốc đất hiện ông đang xây nhà ở là gia đình ông được cấp từ năm 1967 (Quân đội Mỹ gom và di dời dân trong đó có gia đình ông từ quận A, tỉnh Bình Định lên quận A nay là A), họ cấp đất cho gia đình ông sinh sống và làm ăn tại thôn T, xã T, huyện Đ. Trong quá trình sinh sống, gia đình ông có khai phá thêm một số đất liền kề với đất thổ cư mà Mỹ đã cấp. Đến năm 2000, nhà nước có chủ trương đo đạc cấp GCNQSDĐ cho dân theo diện đại trà và gia đình ông đã được cấp GCNQSDĐ số R 738216, ngày 06/9/2000. Tại thời điểm đo đạc và cấp GCNQSDĐ, vì cuộc sống mưu sinh nên ông đi làm ăn xa tại huyện K nên không hay biết việc đo đạc lúc nào và diện tích đất của ông là bao nhiêu.
Sau khi ông nhận GCNQSDĐ ông M không phát hiện diện tích đất bị thiếu so với thực tế đất ông đang sử dụng. Đến tháng 3/2008, ông có xin chuyển mục đích thêm một số đất ở để xây dựng lại nhà và được UBND huyện Đ chấp thuận và đã cấp giấy phép xây dựng số 16/GPXD ngày 25/3/2008, gia đình ông đã cất nhà ở trên diện tích đất hiện nay đang tranh chấp.
Diện tích đất đang tranh chấp với ông T và bà K, gia đình ông M đang quản lý và sử dụng từ năm 1967, đến năm 2008 xây nhà ở cho đến hiện nay, không thay đổi, không cơi nới, không lấn chiếm của ai. Việc này đã được chính quyền địa phương cũng như các hộ sống từ thời đó với gia đình ông M tới nay đã xác nhận. Ông M yêu cầu Tòa án bác đơn khởi kiện của vợ chồng ông T và bà K.
Nguồn gốc đất gia đình ông M sử dụng từ năm 1967. Đến năm 2000, nhà nước có chủ trương đo đạc cấp GCNQSDĐ cho dân theo diện đại trà và gia đình ông đã được cấp GCNQSDĐ số R 738216, ngày 06/9/2000. Tại thời điểm đo đạc và cấp GCNQSDĐ, vì cuộc sống mưu sinh nên gia đình ông M đi làm ăn xa không hay biết việc đo đạc lúc nào và diện tích đất của ông là bao nhiêu. Đến năm 2008 gia đình ông M xây nhà và được cấp giấy phép xây dựng. Việc nguyên đơn cho rằng ông M xây nhà năm 2008 lấn chiến đất của mình là không có căn cứ vì nguyên đơn được nhận tặng cho phần đất này vào năm 2012.
Năm 2004 ông H và bà H1 nhận chuyển nhượng đất của bà nội là bà Nguyễn Thị Đ, sau khi nhận chuyển nhượng thì đất có cây cỏ dại mọc um tùm nên ông H có đến phát dọn cỏ nhưng ông M nói phần đất trên là của ông M nên không cho dọn cỏ, lúc này ông H tưởng là đất của ông M nên không dọn cỏ nữa. Gia đình ông được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số Đ 562326, ngày 09/9/2004; thửa đất số 611; tờ bản đồ số 02; diện tích 1.735m², đất có tứ cận:
Ngày 27/3/2006 ông H và bà H1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Huỳnh A và bà Nguyễn Thị S 85m² đất ở và 28m² đất nông nghiệp thuộc thửa 611; tờ bản đồ số 02.
Ngày 02/6/2012 ông H và bà H1 tặng cho vợ chồng ông T và bà K 80m² đất ở và 299m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 611; tờ bản đồ số 02.
Năm 2008 gia đình ông M đã xây nhà trái phép trên phần đất của ông H và bà H1, lúc này ông H và bà H1 không biết phần đất ông M xây nhà được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ cho ông H và bà H1. Phần đất ông M lấn chiếm xây nhà thì vào năm 2012 vợ chồng ông H bà H1 đã làm thủ tục tặng cho vợ chồng ông T và bà K. Nay ông H bà H1 đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của ông T và bà K.
Trên cơ sở hồ sơ do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh G - Chi nhánh huyện Đ cung cấp và qua xem xét các biên bản xác minh ngày 10/5/2021, biên bản hòa giải ngày 25/6/2021 của UBND xã T, thì thời điểm UBND huyện A (cũ) cấp GCNQSDĐ cho hộ ông M và hộ ông K1 từ ngày 06/9/2000, trong quá trình sử dụng đất, người sử dụng đất đã nhiều lần chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua các chủ sử dụng đất khác, bên chuyển quyền và bên nhận chuyển quyền tự thỏa thuận vị trí, ranh giới sử dụng đất trên thực địa theo hiện trạng thực tế. Việc sử dụng đất của người được công nhận quyền sử dụng đất, người chuyển quyền và người nhận chuyển quyền từ thời điểm cấp GCNQSDĐ, chuyển quyền và nhận chuyển quyền là ổn định. Do đó, UBND huyện đề nghị Tòa án kiểm tra, xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của các chủ sử dụng đất để xem xét, giải quyết theo quy định.
3.Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS -ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
- -Áp dụng Điều 106; Điều 202 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013.
- -Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Oanh K.
- - Bác yêu cầu của ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Oanh K về việc buộc ông Lê Ngọc M phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 317m², thuộc thửa đất số 853, tờ bản đồ số 02, vị trí đất tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
- + Phía Đông: giáp đường đi có kích thước theo hiện trạng là 10,05m, kích thước đã trừ chỉ giới quy hoạch giao thông là 10,12m.
- + Phía Tây: giáp đất của ông Trần Quang T đang sử dụng có kích thước 6,8m, giáp đất nông nghiệp là 3,6m.
- + Phía Nam: giáp đất của ông Trần Quang T đang sử dụng có kích thước là 27,05m (đã trừ chỉ giới quy hoạch giao thông), kích thước thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông là 3,66m.
- + Phía Bắc: giáp đất của ông Lê Ngọc M có kích thước 2m + 2,8m + 10,4m +12,65m, kích thước thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông là 3,96m.
- - Kiến nghị UBND huyện Đ, tỉnh Gia Lai có trách nhiệm thu hồi các GCNQSDĐ cấp chưa đúng để điều chỉnh, cấp lại cho phù hợp với hiện trạng sử dụng đất hiện nay theo quy định của pháp luật.
Xử:
Tổng diện tích theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/6/2023 là 316,7m², trong đó: 38,3m² (phần đất nằm trong chỉ giới quy hoạch giao thông), diện tích đất 278,4m2 (là đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm), đất có tứ cận như sau:
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ chịu tiền chi phí tố tụng; thông báo quyền thoả thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
8.Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án như sau:
Ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K đồng ý giao cho ông Lê Ngọc M và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Võ Thị P1 là ông Lê Ngọc H2; ông Lê Ngọc T1; ông Lê Ngọc B; ông Lê Ngọc T2; bà Lê Thị H3 được quyền sử dụng đối với 316,7m² đất, trong đó có 38,3m² (phần đất nằm trong chỉ giới quy hoạch giao thông), diện tích 278,4m² (là đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm)
Đất có tứ cận như sau:
- + Phía Đông giáp đường đi có kích thước theo hiện trạng là 10,05m, kích thước đã trừ chỉ giới quy hoạch giao thông là 10,12m;
- + Phía Tây giáp đất của ông Trần Quang T có kích thước 6,8m, giáp đất nông nghiệp là 3,6m;
- + Phía Nam giáp đất của ông Trần Quang T có kích thước là 27,05m (đã trừ chỉ giới quy hoạch giao thông), kích thước thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông là 3,66m;
- + Phía Bắc giáp đất của ông Lê Ngọc M có kích thước 2m + 2,8m + 10,4m + 12,65m, kích thước thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông là 3,96m.
(Có sơ đồ kèm theo)
Phần đất đang tranh chấp nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 964676 do UBND huyện Đ cấp ngày 06/7/2012 mang tên ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Oanh K, thửa số 853, tờ bản đồ số 02 tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Tuy nhiên, ông Lê Ngọc M phải trả cho ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K 100.000.000 đồng.
- + Từ ngày 11-01-2024 đến ngày 22-01-2024 ông Lê Ngọc M phải trả cho ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K 50.000.000 đồng.
- + Từ ngày 23-1-2024 đến ngày 23-7-2024 ông Lê Ngọc M phải trả cho ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K 50.000.000 đồng.
- -Trường hợp ông Lê Ngọc M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền của bất kỳ thời kỳ nào đã thỏa thuận trên đây thì ngay sau đó, ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự thi hành án đối với số tiền mà ông Lê Ngọc M đồng ý trả là 100.000.000 đồng.
- -Ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K tự nguyện chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.400.000 đồng
Về án phí dân sự sơ thẩm: Vì sửa bản án dân sự sơ thẩm nên Tòa án cấp phúc thẩm sửa lại án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K tự nguyện chịu 5.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
-Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận nêu trên của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Do tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận nêu trên của các đương sự.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K phải chịu toàn bộ án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử :
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS -ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Ông Lê Ngọc M và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Võ Thị P1 là ông Lê Ngọc H2; ông Lê Ngọc T1; ông Lê Ngọc B; ông Lê Ngọc T2; bà Lê Thị H3 được quyền sử dụng đối với 316,7m² đất, trong đó có 38,3m² (phần đất nằm trong chỉ giới quy hoạch giao thông), diện tích 278,4m² (là đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm)
- + Phía Đông giáp đường đi có kích thước theo hiện trạng là 10,05m, kích thước đã trừ chỉ giới quy hoạch giao thông là 10,12m;
- + Phía Tây giáp đất của ông Trần Quang T có kích thước 6,8m, giáp đất nông nghiệp là 3,6m;
- + Phía Nam giáp đất của ông Trần Quang T có kích thước là 27,05m (đã trừ chỉ giới quy hoạch giao thông), kích thước thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông là 3,66m;
- + Phía Bắc giáp đất của ông Lê Ngọc M có kích thước 2m + 2,8m + 10,4m + 12,65m, kích thước thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông là 3,96m.
- Ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K được quyền sử dụng 391,1m², trong đó: 50m² (phần đất nằm trong chỉ giới quy hoạch giao thông), diện tích đất 341,1m² (là đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm).
- + Phía Đông giáp đường đi có kích thước theo hiện trạng là 11,02m, kích thước đã trừ chỉ giới quy hoạch giao thông là 11,02m;
- + Phía Tây giáp đất nông nghiệp có kích thước 10,57m + 6,59m;
- + Phía Nam giáp nhà đất của ông Trần Ngọc H có kích thước 3,66m + 5,53m + 20,43m, kích thước thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông là 4,16m;
- + Phía Bắc giáp đất tranh chấp mà ông Lê Ngọc M đang sử dụng có kích thước 2m + 27,05m (đã trừ chỉ giới quy hoạch giao thông), kích thước thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông là 3,66m, giáp đất nông nghiệp có kích thước 2,62m.
- Ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K, ông Lê Ngọc M và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Võ Thị P1 là ông Lê Ngọc H2; ông Lê Ngọc T1; ông Lê Ngọc B; ông Lê Ngọc T2; bà Lê Thị H3 được quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đối với các phần đất nêu trên theo quy định của pháp luật.
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai có trách nhiệm thu hồi các Giây chứng nhận quyền sử dụng đất cấp chưa đúng để điều chỉnh, cấp lại cho phù hợp với hiện trạng sử dụng đất hiện nay theo quy định của pháp luật.
- Ông Lê Ngọc M phải trả cho ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K 100.000.000 đồng.
- + Từ ngày 11-01-2024 đến ngày 22-01-2024 ông Lê Ngọc M phải trả cho ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K 50.000.000 đồng.
- + Từ ngày 23-1-2024 đến ngày 23-7-2024 ông Lê Ngọc M phải trả cho ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K 50.000.000 đồng.
- Trường hợp ông Lê Ngọc M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền của bất kỳ thời kỳ nào đã thỏa thuận trên đây thì ngay sau đó, ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự thi hành án đối với số tiền mà ông Lê Ngọc M đồng ý trả là 100.000.000 đồng.
- Về Chi phí tố tụng:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Đất có tứ cận như sau:
(Có sơ đồ kèm theo)
Phần đất này nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 964676 do UBND huyện Đ cấp ngày 06/7/2012 mang tên ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Oanh K, thửa số 853, tờ bản đồ số 02 tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Oanh K không còn tranh chấp với ông Lê Ngọc M và thừa nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Ngọc M và người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Võ Thị P1 đối với phần diện tích đất nêu trên.
- Đất có tứ cận như sau:
(Có sơ đồ kèm theo)
Phần diện tích đất này nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 964676 do UBND huyện Đ cấp ngày 06/7/2012 mang tên ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Oanh K, thửa số 853, tờ bản đồ số 02 tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai
Ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K tự nguyện chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.400.000 đồng. Ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K đã nộp đủ.
Ông Trần Quang T, bà Nguyễn Thị Oanh K tự nguyện chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ 12.000.000đồng vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0004024 ngày 20-11-2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai. Ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Oanh K được hoàn trả lại 7.000.000 đồng.
Buộc ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Oanh K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứn án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai 0004077 ngày 29-9-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai; ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Oanh K đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Lê Văn Hà |
Bản án số 10/2024/DS-PT ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 10/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hai bên thỏa thuận sửa bản án
