TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HS-ST | Ngày: 11-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Hoàng Việt;
- Bà Phạm Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nự - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 197/2023/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo họ và tên:
- Đinh Quốc T (tên gọi khác: /), sinh năm 2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 2 Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đinh Quốc V và con bà Chúng Khải X; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 08/02/2021 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng theo quyết định số 34/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 18/02/2022. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2023. Bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Duy L (tên gọi khác: /), sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C L, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1946 và con bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1952; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Lục Thiện T2 (tên gọi khác: /), sinh năm 1990 tại Bến Tre; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D đường số D, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ học vấn: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lục Thiện G, sinh năm 1970 và con bà Trần Thị Minh Đ, sinh năm 1972; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1969; địa chỉ: 5 N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Bà Trần Thị Minh Đ, sinh năm 1972 ; địa chỉ: D đường số D, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
- Ông Hoàng Xuân H, sinh năm 1980; địa chỉ: Số F X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Đinh Quốc T, Nguyễn Duy L, Lục Thiện T2 là bạn bè, quen biết nhau từ trước và cùng nhau sử dụng ma túy được khoảng 10 lần. Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 12/4/2023, các bị cáo Lục Thiện T2 và Nguyễn Duy L tới quán cà phê địa chỉ A L, phường T, Quận G để uống cà phê. Tại đây, L gọi điện thoại cho Đinh Quốc T rủ T ra quán uống cà phê vì có chuyện buồn cần tâm sự. Qua điện thoại: T hỏi L có muốn sử dụng ma túy không? L đồng ý. T nói không có tiền mua ma túy nên bảo L bỏ tiền ra nhưng L không có tiền nên L quay qua hỏi T2 có chơi ma túy không? T2 đồng ý. L hỏi T2 còn tiền không? Đưa tiền cho T đi mua ma túy. T2 nói chỉ còn đủ tiền trả cà phê, kêu Linh ứng ra đi. L nhắn tin từ số điện thoại 0354.283.xxx của L qua số điện thoại 0949.907.xxx một người bạn tên Hoàng Xuân H mượn 100.000 đồng và nhờ H chuyển 100.000 đồng qua M số điện thoại 0924.750.xxx của Đinh Quốc T.
Một lúc sau T đi bộ đến quán cà phê để gặp L, T2. Tại đây, T nói mượn xe của T2 đi mua ma túy một mình nhưng T2 không đồng ý, T2 đòi đi chung vì sợ mất xe nhưng T không cho. Thái một mình đón xe ôm G2 đi tới ngã tư đường G - đường H, Khu dân cư T, xã B, B rồi gọi điện vào số điện thoại 0567.956.xxx của một người tên D1 (không rõ nhân thân lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 100.000 đồng. Khi mua ma túy xong T đón xe ôm G1 chở về thẳng quán cà phê gặp L, T2. T nói với L, T2 đã mua được ma túy đây rồi, giờ đi về nhà T ở B để sử dụng số ma túy vừa mua được nhưng L, T2 thấy còn sớm nên nói T đợi chút nữa rồi đi, về bây giờ Công an bắt. Cả ba tiếp tục ngồi uống cà phê đến gần 02 giờ 00 ngày 13/4/2023 thì T tiếp tục rủ L, T2 về nhà T để sử dụng ma túy thì L, T2 đồng ý. T2 giao xe mô tô hiệu Airblade biển số 59K1 – 92947 của T2 cho T để chở L, T2 về nhà T sử dụng ma túy. Khi đến trước nhà số B đường số A, phường T, Quận G, thì bị Tổ tuần tra 363 Công an Quận 7 bắt quả tang các bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ bên trong tay áo của bị cáo T đang mặc có một 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, T khai là ma túy.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, các bị cáo Đinh Quốc T, Lục Thiện T2, Nguyễn Duy L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Theo Kết luận giám định số 3699/KL-KTHS ngày 21/4/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1793g (không phẩy một bảy chín ba gam), loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 170/CT-VKSQ7 ngày 05/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Đinh Quốc T, Nguyễn Duy L, Lục Thiện T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên xử các bị cáo Đinh Quốc T, Nguyễn Duy L, Lục Thiện T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đinh Quốc T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lục Thiện T2 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Ngày 08/01/2024, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, nhận được Đơn đề nghị vắng mặt của bị cáo Đinh Quốc T. Xét thấy, hiện nay bị cáo đang được điều trị bệnh lao hạch cổ tại Bệnh viện Phạm Ngọc T3 và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Đinh Quốc T.
[3] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Đinh Quốc T, Nguyễn Duy L, Lục Thiện T2 có hành vi tàng trữ trái phép 0,1793g ma túy thể rắn, loại Methamphetamine. Vì vậy, bị cáo Đinh Quốc T, Nguyễn Duy L, Lục Thiện T2 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội vì tội phạm về ma túy gây tác hại lớn cho con người và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo có nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng để có ma túy thỏa mãn cơn nghiện nên đã phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo Đinh Quốc T là người rủ rê bị cáo Nguyễn Duy L sử dụng ma túy, là người trực tiếp đi mua ma túy và là người chở các bị cáo còn lại về nhà để sử dụng ma túy, bị cáo đã từng được đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 34/QĐ-TA ngày 08/02/2021 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; bị cáo Nguyễn Duy L là người rủ bị cáo Lục Thiện T2 sử dụng ma túy, là người chuyển tiền cho bị cáo Đinh Quốc T đi mua ma túy ; bị cáo Lục Thiện T2 là người đưa xe cho bị cáo Đinh Quốc T để chở các bị cáo về nhà bị cáo T để sử dụng ma túy, nên mức án áp dụng cho từng bị cáo phải cân nhắc để đảm bảo giáo dục chung và phòng, chống tội phạm ma túy trong xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo Nguyễn Duy L có mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Kim L1 đã được Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng 3 nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo Nguyễn Duy L.
[4] Các bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Xử lý vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1793 gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, xét tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) xe mô tô màu cam đen, hiệu Airblade biển số 59K1-92947; số máy: JF63E1015000; số khung: RLHJF6303FZ014996. Xe do ông Nguyễn Văn D đứng tên chủ sở hữu. Ngày 27/8/2018, ông D bán chiếc xe trên cho bà Trần Thị M1 Đào có hợp đồng ủy quyền có công chứng nhưng chưa sang tên. Bà Đ để xe cho con trai Lục Thiện T2 làm phương tiện đi lại. Việc T2 sử dụng xe để cùng T, L thực hiện hành vi phạm tội bà Đ không biết, nên xét trả lại cho bà Đ.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng, số thuê bao 0354.283.244 thu giữ của Nguyễn Duy L; 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy J6+, số thuê bao 0924.750.397 thu giữ của Đinh Quốc T. Đây là phương tiện dùng để phạm tội nên xét tịch thu sung quỹ Nhà nước các điện thoại trên.
[6] Đối với người thanh niên tên D1 đã bán ma túy cho Đinh Quốc T tại trước nhà ngã tư đường G - đường H, KDC T, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra, đủ căn cứ xử lý sau.
Đối với Hoàng Xuân H là người được Nguyễn Duy L nhờ chuyển 100.000 đồng qua ví momo cho Đinh Quốc T để mua ma túy. H không biết việc L nhờ chuyển tiền mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý là có căn cứ.
[7] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Đinh Quốc T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2023
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2023.
3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lục Thiện T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2023.
4. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1793 gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
- Trả lại cho bà Trần Thị Minh Đ 01 (một) xe mô tô màu cam đen, hiệu Airblade biển số 59K1-92947; JF63E1015000; số khung: RLHJF6303FZ014996.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng, số thuê bao 0354.283.244 và 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy J6+, số thuê bao 0924.750.397.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 004 ngày 10/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Đinh Quốc T, Nguyễn Duy L, Lục Thiện T2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với bị cáo Đinh Quốc T và các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ngọc P |
Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 10/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ĐINH QUỐC THÁI, NGUYỄN DUY LINH, LỤC THIỆN TÀI
