Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày: 11/01/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Công Chiếm
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Cao Hoàng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 340/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1240/2023/QĐXXST-HS ngày 29/12/2023, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn L, sinh năm: 1986, tại: Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: 113/28 đường L, Tổ G, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Quang Q, sinh năm 1945 (đã chết); Họ tên mẹ: Lê Thị Đ, sinh năm 1948 (đã chết);Vợ: Hà Thị T, sinh năm 1987; bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2011 ; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

  2. Lê Văn D, sinh năm: 1990, tại: Tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: 113/28, Tổ G, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Lê Văn V, sinh năm 1965; Họ tên mẹ: Lê Thị T1, sinh năm 1968; Có vợ là Trần Thị Thùy T2, sinh năm 1995, bị cáo có 01 người con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

  3. Lê Văn T3, sinh năm: 1988, tại: Tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: TDP K, phường Q, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: 340/57/41, Tổ G, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Lê Văn H, sinh năm 1957; Họ tên mẹ: Lê Thị L1, sinh năm 1958; Có vợ là Đỗ Thị H1, sinh năm 1988, bị cáo có 02 người con lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh 2015; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

  4. Đặng Văn T4, sinh năm: 1978, tại: Tỉnh Tây Ninh; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: 44/2, Tổ C, Khu phố H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thu gom rác thải; Trình độ học vấn: 06/12; Họ tên cha: Đặng Văn Đ1, sinh năm 1945, Nguyễn Thị T5, sinh năm 1949; Có vợ là Nguyễn Thị Thu T6, sinh năm 1980, bị cáo có 01 người con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

  5. Vũ Đình N, sinh năm: 1991, tại: Tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: 184, tổ G, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Vũ Quang T7, sinh năm 1965; Họ tên mẹ: Giáp Thị C, sinh năm 1969; Có vợ là Đặng Thị T8, sinh năm 1997, bị cáo có 03 người con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

  6. Mai Văn P, sinh năm: 1977, tại: Tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: 44/2, Tổ C, Khu phố H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Họ tên cha: Mai Văn H2 (đã chết); Họ tên mẹ: Trần Thị Ú (đã chết); vợ chưa có, bị cáo có 01 người con sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

  7. Nguyễn Thanh S, sinh năm: 1982, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: 23/5, Tổ D, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Họ tên cha: không xác định; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N1 (đã chết); Có vợ là Võ Thị Thu C1, sinh năm 1986, bị cáo có 02 người con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh 2006; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

  8. Nguyễn Văn T9, sinh năm: 1982, tại: Tỉnh Vĩnh Phúc; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: 59/7 đường L, Tổ G, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 09/12; Họ tên cha: Nguyễn Ngọc T10, sinh năm 1958; Họ tên mẹ: Trần Thị C2, sinh năm 1959; Có vợ là Trần Thị D1, sinh năm 1986, bị cáo có 02 người con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 19/4/2023, Nguyễn Văn L ra bãi đất trống cạnh địa chỉ: 1, đường L, khu phố A, phường T, Quận A thì gặp Vũ Đình N, Mai Văn P, Lê Văn D, Lê Văn T3, Đặng Văn T4, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Thanh S. Sau đó, tất cả cùng rủ nhau đánh bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức bài cào tố, L mua một bộ bài tây 52 lá để đánh bài thắng thua bằng tiền.

Hình thức đánh bài cào tố như sau: Các đối tượng sử dụng bộ bài lá 52 lá chia thành 08 phần, mỗi phần ba lá bài, một ván một con bạc đặt cược số tiền 20.000 đồng/người. Sau khi chia bài thì con bạc được cược thêm số tiền từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng, cược tối đa 03 lần. Con bạc không theo tố thì úp bài, con bạc còn lại đọ thắng thua với nhau ai có điểm số, có ba quân bài liền kề nhau hoặc có ba quân bài trùng nhau lớn hơn thì thắng cược. Người thắng cược chia bài ván kế tiếp. Khi đánh bạc quy định 05 ván đầu tiên người thắng sẽ phải bỏ ra số tiền tổng cộng 200.000 đồng để mua bài và mua nước. Đến 15 giờ 10 phút, khi Nguyễn Văn L đang làm cái chia 08 tụ bài, mỗi con bạc đặt cược số tiền 20.000 đồng trên chiếu bạc chưa tính thắng thua thì bị Công an Q1 bắt quả tang thu giữ: 01 bộ bài 52 lá, 01 tấm chiếu và tổng số tiền đánh bạc là 16.500.000 đồng. (Bút lục 57-59)

Qua làm việc các đối tượng tham gia đánh bạc khai nhận như sau:

Nguyễn Văn L khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, L mang theo số tiền là 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc L thua số tiền là 500.000 đồng. Đến 15 giờ 10 phút, khi bị Công an Q1 bắt quả tang thu giữ: 01 bộ bài 52 lá, 01 tấm chiếu và tổng số tiền đánh bạc là 16.500.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc của L là 500.000 đồng. Trong 05 ván đầu tiên thì L thắng một ván bài và bỏ ra số tiền 40.000 đồng để mua nước.

Vũ Đình N khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, N mang theo số tiền là 5.000.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Nhận thua số tiền là 2.000.000 đồng. Đến 15 giờ 10 phút, khi bị Công an Q1 bắt quả tang thu giữ: 01 bộ bài 52 lá, 01 tấm chiếu và tổng số tiền đánh bạc là 16.500.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc của Nhận là 3.000.000 đồng. Trong 05 ván đầu tiền thì N thắng một ván bài và bỏ ra số tiền 40.000 đồng để mua nước.

Mai Văn P khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, P mang theo số tiền là 500.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc P thua số tiền là 360.000 đồng. Đến 15 giờ 10 phút, khi bị Công an Q1 bắt quả tang thu giữ: 01 bộ bài 52 lá, 01 tấm chiếu và tổng số tiền đánh bạc là 16.500.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc của P là 140.000 đồng.

Lê Văn D khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, D mang theo số tiền là 2.000.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc D thắng số tiền là 2.400.000 đồng. Đến 15 giờ 10 phút, khi bị Công an Q1 bắt quả tang thu giữ: 01 bộ bài 52 lá, 01 tấm chiếu và tổng số tiền đánh bạc là 16.500.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc của D là 4.400.000 đồng. Trong 05 ván đầu tiền thì D thắng một ván bài và bỏ ra số tiền 40.000 đồng để mua nước.

Lê Văn T3 khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, T3 mang theo số tiền là 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T3 thắng số tiền là 400.000 đồng. Đến 15 giờ 10 phút, khi bị Công an Q1 bắt quả tang thu giữ: 01 bộ bài 52 lá, 01 tấm chiếu và tổng số tiền đánh bạc là 16.500.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc của T3 là 1.400.000 đồng. Trong 05 ván đầu tiền thì T3 thắng một ván bài và bỏ ra số tiền 40.000 đồng để mua nước.

Đặng Văn T4 khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, T4 mang theo số tiền là 3.500.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T4 thua số tiền là 140.000 đồng. Đến 15 giờ 10 phút, khi bị Công an Q1 bắt quả tang thu giữ: 01 bộ bài 52 lá, 01 tấm chiếu và tổng số tiền đánh bạc là 16.500.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc của T4 là 3.360.000 đồng.

Nguyễn Văn T9 khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, T9 mang theo số tiền là 3.000.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T9 thua số tiền là 800.000 đồng. Đến 15 giờ 10 phút, khi L đang làm cái chia 08 tụ bài, T9 cùng các con bạc đặt cược số tiền 20.000 đồng/ 1 người trên chiếu bạc chưa tính thắng thua thì bị Công an Q1 bắt quả tang thu giữ: 01 bộ bài 52 lá, 01 tấm chiếu và tổng số tiền đánh bạc là 16.500.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc của T9 là 2.200.000 đồng. Trong 05 ván đầu tiền thì T9 thắng một ván bài và bỏ ra số tiền 40.000 đồng để mua nước.

Nguyễn Thanh S khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, S mang theo số tiền là 500.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc S thắng số tiền là 1.000.000 đồng. Đến 15 giờ 10 phút, khi L đang làm cái chia 08 tụ bài, S cùng các con bạc đặt cược số tiền 20.000 đồng/ 1 người trên chiếu bạc chưa tính thắng thua thì bị Công an Q1 bắt quả tang thu giữ: 01 bộ bài 52 lá, 01 tấm chiếu và tổng số tiền đánh bạc là 16.500.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc của S là 1.500.000 đồng.

Tại cơ quan công an, Nguyễn Văn L, Vũ Đình N, Mai Văn P, Lê Văn D, Lê Văn T3, Đặng Văn T4, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Thanh S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Quá trình đánh bạc không có đối tượng thu tiền xâu. Số tiền 40.000 đồng mỗi người do Nguyễn Văn L, Vũ Đình N, Lê Văn D, Lê Văn T3, Nguyễn Văn T9 bỏ ra để mua nước đều không phải từ số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc. (Bút lục 121-147)

* Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:

  • 01 bộ bài lá 52 lá
  • 01 tấm chiếu dùng làm chiếu bạc.
  • Tiền Ngân hàng N2: 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) (Trong đó: Tiền sử dụng đánh bạc của Nguyễn Văn L là 500.000 đồng, Vũ Đình N là 3.000.000 đồng, Mai Văn P là 140.000 đồng, Lê Văn D là 4.400.000 đồng, Lê Văn T3 là 1.400.000 đồng, Đặng Văn T4 là 3.360.000 đồng, Nguyễn Văn T9 là 2.200.000 đồng, Nguyễn Thanh S là 1.500.000 đồng)

Bản cáo trạng số: 155/CT-VKS, ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Văn L, Vũ Đình N, Mai Văn P, Lê Văn D, Lê Văn T3, Đặng Văn T4, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Thanh S về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nêu lên những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L, Vũ Đình N, Mai Văn P, Lê Văn D, Lê Văn T3, Đặng Văn T4, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Thanh S từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm:

  • 01 bộ bài lá 52 lá
  • 01 tấm chiếu dùng làm chiếu bạc.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc là Tiền Ngân hàng N2: 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) (Trong đó: Tiền sử dụng đánh bạc của Nguyễn Văn L là 500.000 đồng, Vũ Đình N là 3.000.000 đồng, Mai Văn P là 140.000 đồng, Lê Văn D là 4.400.000 đồng, Lê Văn T3 là 1.400.000 đồng, Đặng Văn T4 là 3.360.000 đồng, Nguyễn Văn T9 là 2.200.000 đồng, Nguyễn Thanh S là 1.500.000 đồng.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã xác định. Các bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo có cơ hội được ở nhà để các bị cáo có điều kiện đi làm lo cho gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tự khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 19/4/2023, tại bãi đất trống cạnh địa chỉ: 1, đường L, khu phố A, phường T, Quận A N, Vũ Đình N, Mai Văn P, Lê Văn D, Lê Văn T3, Đặng Văn T4, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Thanh S đã thực hiện hành đánh bạc dưới hình thức bài cào tố, tổng số tiền đánh bạc là 16.500.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo có yếu tố đồng phạm, nhưng chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc từ trước.

Đối với Nguyễn Văn L khi tham gia đánh bạc, L mang theo số tiền là 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc L thua số tiền là 500.000 đồng, Vũ Đình N khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, N mang theo số tiền là 5.000.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Nhận thua số tiền là 2.000.000 đồng; Mai Văn P khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, P mang theo số tiền là 500.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc P thua số tiền là 360.000 đồng; Lê Văn D khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, D mang theo số tiền là 2.000.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc D thắng số tiền là 2.400.000 đồng; Lê Văn T3 khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, T3 mang theo số tiền là 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T3 thắng số tiền là 400.000 đồng; Đặng Văn T4 khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, T4 mang theo số tiền là 3.500.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T4 thua số tiền là 140.000 đồng; Nguyễn Văn T9 khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, T9 mang theo số tiền là 3.000.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T9 thua số tiền là 800.000 đồng; Vì vậy, cần xét xử nghiêm để cải tạo giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên cần xem xét cho các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Cần áp dụng các điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi quyết định hình phạt và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo.

- Về vật chứng của vụ án:

Cần tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 bộ bài tây 52 lá và 01 tấm chiếu dùng làm chiếu bạc.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc là: 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) (Trong đó: Tiền sử dụng đánh bạc của Nguyễn Văn L là 500.000 đồng, Vũ Đình N là 3.000.000 đồng, Mai Văn P là 140.000 đồng, Lê Văn D là 4.400.000 đồng, Lê Văn T3 là 1.400.000 đồng, Đặng Văn T4 là 3.360.000 đồng, Nguyễn Văn T9 là 2.200.000 đồng, Nguyễn Thanh S là 1.500.000 đồng)

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hoàn cánh khó khăn nên miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn L 09 (Chín tháng) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Vũ Đình N: 09(Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Đình N cho Ủy ban nhân dân phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Mai Văn P 09(Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18(Mười tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thâm.

Giao bị cáo Mai Văn P cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Lê Văn D 09(Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18(Mười tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thâm.

Giao bị cáo Lê Văn D cho Ủy ban nhân dân phường T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Lê Văn T3 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18(Mười tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Văn T3 cho Ủy ban nhân dân phường T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Đặng Văn T4 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18(Mười tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đặng Văn T4 cho Ủy ban nhân dân phường T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T9 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18(Mười tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T9 cho Ủy ban nhân dân phường T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh S 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh S cho Ủy ban nhân dân phường T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng)

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá và 01 tấm chiếu dùng làm chiếu bạc.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 119/QĐ-VKS, ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

(Hội đồng xét xử đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo)

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - UBND nơi bị cáo cư trú(1b);
  • - Bị cáo (1b);
  • - Bộ phận THA HS (4b);
  • - Lưu vt, hs (5b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger