TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HNGĐ-PT Ngày 14/5/2024 V/v “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Thực.
Các thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng.
Bà Vũ Thị Nga.
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Ông Đào Đức Thông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Bùi Thế C, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Số G đường N, tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. - Bị đơn: Chị Phạm Thị Hồng N, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số G đường N, tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. - Người làm chứng :
- Cháu Bùi Thùy D, sinh năm 2002.
- Cháu Bùi Phương M, sinh ngày 09/11/2005.
- Nơi đăng ký HKTT: Số G đường N, tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Phạm Hữu T, sinh năm 1950.
Địa chỉ : Tổ dân phố N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. - Bà Phạm Thị L, sinh năm 1954.
Địa chỉ : Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- Người kháng cáo: Chị Phạm Thị Hồng N.
1
(Có mặt chị N, vắng mặt những người còn lại)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 7 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Bùi Thế C trình bày:
Anh và chị Phạm Thị Hồng N có đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện M (nay là phường B, thị xã M), tỉnh Hưng Yên vào ngày 03/12/2001.
Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng trong cuộc sống; sự khác biệt về quan điểm sống, cách sinh hoạt, ứng xử dẫn đến cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, ngột ngạt, mệt mỏi; hai bên thiếu sự quan tâm, chia sẻ và cảm thông. Chị N là người vợ sống ích kỷ, thiếu tôn trọng chồng và gia đình nhà chồng. Thường xuyên là người soi mói, chì chiết, là người con dâu thiếu trách nhiệm với bố mẹ chồng. Nhiều lần vợ chồng đã nói chuyện để cùng nhau khắc phục mâu thuẫn nhưng chị N không thay đổi nên cuộc sống vợ chồng ngày càng có khoảng cách, không thể có tiếng nói chung. Vào các năm 2020, 2021, chị N đã làm đơn xin ly hôn nhưng anh không ký hoặc cũng có những lần anh muốn ly hôn nhưng thương các con, sợ ảnh hưởng đến tâm lý của con nên chưa làm đơn. Mặt khác, vợ chồng anh đều là những người có những vị trí nhất định trong xã hội. Nhiều lúc vì con cái công việc, và lo gia đình hai bên bị ảnh hưởng mà vợ chồng kéo dài cuộc hôn nhân không có hạnh phúc. Anh chị sống cùng nhau nhưng không quan tâm, chia sẻ mà đơn thuần chỉ là trách nhiệm với nhau. Nay anh xác định, việc kéo dài cuộc hôn nhân hiện tại sẽ càng làm cho anh và chị N luôn sống trong tâm trạng căng thẳng và mệt mỏi nên anh, chị đã tự ly thân và sống riêng. Quá trình ly thân vợ chồng không giao tiếp và không chia sẻ, quan tâm đến nhau. Anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau nên anh khởi kiện ly hôn chị N.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Hồng N1:
Chị thống nhất việc vợ chồng đăng ký kết hôn như anh C đã trình bày. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc cho đến khoảng 2 năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn từ những việc nhỏ nhặt trong cuộc sống. Anh C là người chồng gia trưởng, là người dành nhiều thời gian cho công việc mà ít có thời gian cho gia đình nên có những khoảng thời gian vợ chồng không chia sẻ, tâm sự với nhau. Có những công việc trong gia đình chị muốn bàn bạc với chồng nhưng anh không có nhà nên chị phải nhắn tin hỏi ý kiến anh, có việc anh nhắn lại, có việc anh không trả lời tin nhắn. Gia đình có công việc gì cần tới sự giúp đỡ của anh thì hầu như không bao giờ anh bàn với chị mà tự làm, tự quyết định, sau đó nói với chị thì sự việc đã xong hoặc anh đang làm, nên chị cảm thấy anh không tôn trọng chị và vợ chồng thiếu sự thống nhất. Chị phản ứng thì anh cho rằng chị sống ích kỷ. Trong cuộc sống, anh C không chia sẻ với chị về công việc hay về các vấn đề khác cho nên có những việc chị chỉ biết thông tin về anh qua những người thân khác. Chị là người sống hết lòng cho gia đình, đối xử đúng mực với gia đình chồng. Chị xác định có những lúc vợ chồng không tâm sự, chia sẻ nên không khí gia đình rất căng thẳng và mệt mỏi mà nguyên nhân là anh C không có thời gian dành cho gia đình. Hiện tại vợ chồng đã tự ly thân, anh C sống tại nơi khác. Quá trình ly thân vợ chồng chỉ liên lạc đến con chung, ngoài ra vợ chồng không quan tâm, chia sẻ. Nay chị xác định vẫn còn tình cảm với anh C nên chị không nhất trí ly hôn.
- Về con chung: Anh C và chị N1 cùng thống nhất vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Bùi Thùy D, sinh năm 2002 và cháu Bùi Phương M, sinh ngày 09/11/2005. Hiện tại cháu D, cháu M đều đã thành niên và không có nhược điểm về thể chất, tâm thần. Hiện nay hai cháu đều đang đi du học tại đại học M1 - S - Australia từ tháng 11 năm 2023. Anh chị đều tự nguyện không yêu cầu giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung vợ chồng và công sức: Anh C, chị N1 đều xác định tự nguyện không yêu cầu Toà án giải quyết.
Người làm chứng trình bày:
- Ông Phạm Hữu T: Vợ chồng anh C, chị N1 chung sống chỉ có những mâu thuẫn nhỏ nhặt hàng ngày. Khi anh C nộp đơn khởi kiện ly hôn chị N1 thì anh C có đến thưa chuyện với ông. Ông khuyên bảo mong muốn vợ chồng anh chị đoàn tụ nhưng nếu anh C kiên quyết ly hôn chị N1 thì đó là quyền quyết định của anh chị.
- Bà Phạm Thị L: Vợ chồng anh C, chị N1 sống cùng bà một thời gian ngắn. Bà xác định anh chị mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, chị N1 là người phụ nữ khó tính. Khi anh C làm đơn khởi kiện ly hôn chị N1 thì anh C cũng thưa chuyện với bà và bà cũng khuyên bảo mong anh chị đoàn tụ vì các con nhưng nếu anh C kiên quyết ly hôn thì đó là quyền quyết định của anh chị, bà không can thiệp.
Tại bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên quyết định:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Thế C, xử anh Bùi Thế C và chị Phạm Thị Hồng N ly hôn.
- - Về con chung, tài sản, vay nợ, công sức: Không xem xét giải quyết.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, chị N có đơn kháng cáo đề ngày 19/02/2024, nội dung đề nghị không chấp nhận đơn khởi kiện của anh Bùi Thế C.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Anh Bùi Thế C vắng mặt. Chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
3
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng. Đối với người tham gia tố tụng đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị N, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đương sự phải chịu án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của chị Phạm Thị Hồng N được làm trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ và được xem xét.
Nguyên đơn anh C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên Hội đồng tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
2. Về nội dung:
Xét kháng cáo của chị N thì thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bầy của anh C và chị N, cũng như lời khai của những người làm chứng là ông T và bà L trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh C và chị N đã phát sinh mâu thuẫn. Anh chị bất đồng quan điểm về cách sống, quan niệm sống, cách xử sự dẫn đến thiếu sự quan tâm, chia sẻ với nhau. Tình cảm của anh chị dành cho nhau ngày càng phai nhạt.
Bản thân chị N cũng thừa nhận anh chị có những khoảng thời gian không trực tiếp chia sẻ công việc gia đình với nhau mà chỉ trao đổi thông qua những dòng tin nhắn. Về cuộc hôn nhân, anh C xác định từ những năm 2020, anh chị đều dự định muốn vợ chồng ly hôn để giải thoát cho nhau nhưng vì các con, gia đình hai bên và vì công việc mà anh chị chưa thể ly hôn. Trên thực tế, hôn nhân của anh chị đã có mâu thuẫn một thời gian dài. Tuy nhiên, cả hai anh chị không tìm cách tháo gỡ vấn đề để giải quyết mâu thuẫn mà lại chọn cho mình cách sống khép kín, không chia sẻ bàn bạc với nhau về công việc và tình cảm dẫn đến cuộc sống gia đình ngày càng căng thẳng, ngột ngạt không hạnh phúc.
Tại giai đoạn sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã tổ chức 02 phiên hoà giải để anh chị hàn gắn tình cảm nhưng cả 02 lần hoà giải chỉ có anh C có mặt còn chị N đều vắng mặt. Để tạo điều kiện, Toà án đã kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử 6 tháng nhưng cả hai anh chị đều không có giải pháp nào tháo gỡ những mâu thuẫn, bất đồng của vợ chồng. Đến nay, hai anh chị đã chính thức ly thân không sống cùng nhau, anh C sống trên Hà Nội còn chị N ở tại M. Chị N mong muốn đoàn tụ nhưng không đưa ra được giải pháp, phía anh C vẫn cương quyết xin ly hôn. Điều này cho thấy thực trạng cuộc hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân hiện tại sẽ không thể mang lại hạnh phúc cho cả hai vợ chồng. Vì vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, cho anh C ly hôn chị N là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N.
3. Về án phí:
Chị N kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Phạm Thị Hồng N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Chị Phạm Thị Hồng N phải chịu 300.000đ. Đối trừ với số tiền tạm ứng 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 1628 ngày 20/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào. Nhị Nhung đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Thực |
5
Bản án số 10/2024/HNGĐ-PT ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 10/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về HNGĐ
