Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-01 - 2024

Về “Tranh chấp Hôn nhân

và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh, ông Võ Duy Bảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 282/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 351/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị A; sinh năm 1989. Địa chỉ: xóm D, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Đề nghị xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn N; sinh năm 1984. Vắng mặt. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm D, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hiện nay đang ở nước ngoài.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị A như sau:

Chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Văn N tìm hiểu, yêu thương nhau, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An ngày 04 tháng 12 năm 2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống cùng bố mẹ chồng tại xóm D, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Tháng 01/2022 anh N đi xuất khẩu lao động tại Canada. Do ở cách xa nhau về khoảng cách địa lý nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đã một thời gian dài vợ chồng không liên lạc với nhau, nên chị A cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh N. Nếu kéo dài thời gian cuộc hôn nhân thì cũng chỉ là hình thức, còn tình cảm vợ chồng thực sự đã hết. Chị A đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: chị A, anh N có 02 người con chung là Nguyễn Thị Bảo L, sinh ngày 12 tháng 6 năm 2014 và Nguyễn Hải B, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2020. Từ trước đến nay các con chung do chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, chị A đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị A không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Quá trình từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng bị đơn là anh Nguyễn Văn N vắng mặt, do đó không có ý kiến.

Chị Nguyễn Thị A không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh N cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh N đang sinh sống tại Canada. Theo Công văn số 22520/QLXNC-P5 ngày 30/8/2023 của Cục Q - Bộ C thì anh Nguyễn Văn N xuất cảnh qua cửa khẩu T ngày 08/01/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Tòa án đã tiến hành gửi văn bản yêu cầu ông Nguyễn Văn S (là bố đẻ anh N), trú tại xóm D, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu ông S thông báo với anh N để gửi lời khai về cho Tòa án. Ông S cho biết thời gian ở nước ngoài, anh N thường xuyên liên lạc về với ông, ông đã nói cho anh N biết việc chị A làm đơn ly hôn anh N, và nói anh N cung cấp địa chỉ ở nước ngoài cho Tòa án, nhưng anh N cho biết công việc không ổn định, nay đây mai đó, do đó ông không cung cấp được địa chỉ của anh N cho Tòa án. Anh N đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị A và anh N, nhưng đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào thể hiện ý kiến của anh N liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.

Cháu Nguyễn Bảo L có Đơn trình bày nguyện vọng: Nếu bố mẹ ly hôn, cháu L muốn ở với mẹ.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Nguyễn Văn N. Về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Thị Bảo L, sinh ngày 12 tháng 6 năm 2014 và Nguyễn Hải B, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2020 cho chị Nguyễn Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị A không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị A chưa yêu cầu, nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị A, anh Nguyễn Văn N có địa chỉ cư trú tại xóm D, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Bị đơn anh Nguyễn Văn N hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị A đúng qui định pháp luật, chị A đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

Việc tống đạt thông báo, các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Văn N, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh N vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Văn N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 04/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc. Tháng 01/2022, anh N đi xuất khẩu lao động tại C - na - da. Do vợ chồng sống xa nhau nên đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, thiếu sự qua tâm lẫn nhau, nay chị A thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên làm đơn ly hôn. Theo lời khai của ông S thì anh N đã được ông thông tin cho biết chị A làm đơn xin ly hôn với anh, nhưng anh N không gửi ý kiến về cho Tòa án. Xét tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Nguyễn Thị A ly hôn anh Nguyễn Văn N.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Văn N có 02 con chung là Nguyễn Thị Bảo L, sinh ngày 12 tháng 6 năm 2014 và Nguyễn Hải B, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2020, hai con chung đang ở cùng chị A, được chị A chăm sóc nuôi dưỡng. Cháu L có nguyện vọng là được ở với chị A, cháu B mới hơn 03 tuổi. Xét thấy: việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm của chị A, anh N. Hiện tại anh Nguyễn Văn N đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ, không có điều kiện trực tiếp nuôi con chung, chị A có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp cần được chấp nhận. Do đó, giao 02 con chung cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, anh N có thể khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi có điều kiện.

Về cấp dưỡng: chị A chưa yêu cầu và anh N cũng chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử chưa xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không được ai cản trở.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị A chưa yêu cầu và anh N cũng chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị A phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 2 Điều 207; Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị A.

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung:
    1. Giao con chung là Nguyễn Thị Bảo L, sinh ngày 12 tháng 6 năm 2014 và Nguyễn Hải B, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2020 cho chị Nguyễn Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 01/2024 đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
    2. Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị A chưa yêu cầu, anh Nguyễn Văn N cũng chưa có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0004469 ngày 13/10/2023.
  5. Về quyền kháng cáo:
    1. Chị Nguyễn Thị A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ.
    2. Anh Nguyễn Văn N đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND Tân Hợp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger