Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 10/2024/HS-PT

Ngày: 08-01-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hưng

Các Thẩm phán: Ông Ngô Thanh Sỹ

Ông Võ Văn Toàn

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Đức Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 484/2023/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Bùi Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 472/2023/HS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Thị H, sinh năm 1972, tại Đồng Nai; nơi cư trú: A, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Q, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; có chồng là Phạm Văn T; có 02 con, sinh năm 1993 và 2000; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được tại ngoại điều tra - có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 16/11/2022, anh Phạm Văn S điều khiển xe ô tô biển số 61A-788.61 chở ông Phạm Văn T (cha anh S) ngồi ghế trên bên phải xe, Bùi Thị H (mẹ anh S), chị Phạm Thị D (chị anh S) và 01 cháu bé sinh năm 2022 (con chị D) cùng ngồi hàng ghế phía sau, H ngồi phía bên trái xe, lưu thông trên đường B theo hướng từ vòng xoay H đi về ngã tư Chợ Đ. Khi lưu thông đến đoạn đường thuộc khu phố B, phường B, thành phố B thì cháu bé con chị D bị nôn (ói) nên anh S điều khiển xe ô tô dừng sát lề phải (theo hướng lưu thông). Ngay lúc xe ô tô biển số 61A-788.61 vừa dừng lại, H không quan sát về phía sau mà đột ngột mở cửa sau bên trái xe ô tô biển số 61A-788.61, cùng lúc này có anh Lê Thành S1 điều khiển xe mô tô biển số 60H8-8396 chở cháu Lê Bảo D1 lưu thông cùng chiều đang đi đến không kịp né tránh đụng vào cánh cửa sau bên trái xe ô tô 61A-788.61 làm anh S1 và cháu Duy n xuống đường. Anh S1 bị ngã về bên trái ngay phía trước bên phải đầu xe ô tô tải biển số 61C-266.54 do anh Bùi Văn T1 điều khiển đang lưu thông cùng chiều và bị bánh trước bên phải xe ô tô 61C-266.54 đụng trúng người anh S1 gây tai nạn, làm anh S1 bị thương. Sau đó, anh S, ông T, anh T1 cùng người dân đưa anh S1 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ cấp cứu, rồi anh S1 được chuyển đến Bệnh viện C và Bệnh viện Q1 tiếp tục điều trị thương tích.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường đã xác định được các dấu vết vụ tai nạn như sau (tất cả các dấu vết được đo vào mép lề đường bên phải theo chiều đường vòng xoay H đi ngã tư Chợ Đ - viết tắt là mép lề phải và lấy trụ đèn chiếu sáng số 65 trên lề trái làm điểm mốc):

- Đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, có vạch sơn màu vàng liền nét (Vạch 1.2) kết hợp vạch sơn màu vàng đứt nét (Vạch 1.1) phân chia thành hai chiều đường lưu thông. Chiều đường vòng xoay H đi ngã tư Chợ Đ được chia làm 02 làn xe bằng vạch sơn màu vàng đứt nét, làn thứ nhất (giáp lề phải) rộng 02m55, làn thứ hai rộng 03m85.

- Xe mô tô biển số 60H8-8396 ngã nghiêng bên trái, đầu xe hướng chếch phải về ngã tư Chợ Đ, đuôi xe quay hướng vòng xoay H. Trục bánh trước cách trụ đèn chiếu sáng số 65 trên lề trái là 11m05 và cách mép lề phải 02m40; trục bánh sau cách mép lề phải 03m10.

- Xe ô tô biển số 61A-788.61 dừng trên đường, đầu xe hướng đi ngã tư Chợ Đ, đuôi xe quay hướng vòng xoay H. Đầu trục bên phải bánh trước cách mép lề phải 00m05; đầu trục bên phải bánh sau cách mép lề phải 00m04. Đầu trục bên trái bánh trước cách trục bánh trước xe mô tô biển số 60H8-8396 là 00m65.

- Xe ô tô tải biển số 61C-266.54 dừng trên đường, đầu xe quay chếch trái hướng đi ngã tư Chợ Đ, đuôi xe quay hướng vòng xoay H. Đầu trục bên phải bánh trước cách mép lề phải 04m60; đầu trục bên phải bánh sau cách mép lề phải 04m15 và cách trục bánh trước xe mô tô biển số 60H8-8396 là 03m55.

- Vết máu nạn nhân để lại trên mặt đường, kích thước 30cm x20cm; tâm vết máu cách mép lề phải 01m00 và cách trục bánh trước xe mô tô biển số 60H8-8396 là 04m80.

- Vết phanh bên phải của xe ô tô tải biển số 61C-266.54 để lại trên mặt đường từ đầu vết phanh đến bánh trước bên phải của xe ô tô tải biển số 61C-266.54 là 06m60, đầu vết phanh cách mép lề phải 04m00.

Tại Kết luận giám định số: 69/KLGĐ-PC09 ngày 06/02/2023 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ xác định:

- Cánh cửa sau bên trái của xe ô tô biển số 61A-788.61 (dấu vết trượt xước, tróc sơn màu trắng tại cạnh sau của cánh cửa sau bên trái; dấu vết trượt, dính bụi tại mặt sau của cạnh dưới ốp nhựa viền cánh cửa sau bên trái, ốp nhựa cạnh dưới cửa bị bung ra) có cùng chiều từ sau ra trước, phù hợp va chạm với bên phải xe mô tô biển số 60H8-8396 (dấu vết trượt xước, tróc sơn tại mặt trước gốc tay thắng phải; dấu vết trượt, cong vênh về phía sau của khung gác chân trước bên phải) có cùng chiều từ trước ra sau.

- Không đủ cơ sở xác định điểm va chạm giữa xe ô tô biển số 61C-266.54 với nạn nhân.

- Dấu vết trượt xước, mài mòn tại các chi tiết bên trái: khung gác chân trước, thanh nâng của xe mô tô biển số 60H8-8396 có chiều từ trái qua phải, phù hợp va chạm mặt đường khi xe ngã.

- Dấu vết trượt, dính cao su tại má ngoài lốp trước bên phải của xe ô tô biển số 61C-266.54 có chiều từ má lốp vào tâm lốp, ngược chiều quay tiến của lốp phù hợp với dấu vết trượt xước mất cao su tại cạnh sau thanh nâng của xe mô tô biển số 60H8-8396 có chiều từ sau ra trước, trên xuống dưới.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0165/TgT/2023 ngày 07/3/2023 của Giám định viên Trung tâm P xác định anh Lê Thành S1 bị thương tích như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

  • - Sẹo vết thương từ ngực xuống bụng đến đùi trái; sẹo vạt da đùi phải; 02 sẹo mổ mặt ngoài đùi trái; 02 sẹo mổ mặt trước đùi trái; sẹo mổ vùng hạ sườn trái; sẹo cẳng tay phải; 03 sẹo mổ đặt Catheter vùng cổ bên phải; 03 sẹo mổ cố định ngoài khung chậu.
  • - Tổn thương gãy ngành ngồi mu phải; gãy cánh xương cùng bên trái; gãy liên mấu chuyển xương đùi trái (đầu tiên xương đùi trái); mở bàng quang ra da hiện chưa có di chứng; tổn thương gãy ngành ngồi mu trái + chậu mu trái + cánh chậu trái (gãy khung chậu kiểu Malgaigne).

2. Kết luận:

  • - Tổn thương gãy ngành ngồi mu trái + chậu mu trái + cánh chậu trái (gãy khung chậu kiểu Malgaigne). Tỷ lệ: 31%.
  • - Tổn thương gãy ngành ngồi mu phải. Tỷ lệ: 11%.
  • - Tổn thương gãy cánh xương cùng bên trái. Tỷ lệ: 05%.
  • - Tổn thương gãy liên mấu chuyển xương đùi trái (đầu trên xương đùi trái). Tỷ lệ: 26%.
  • - Chấn thương bàng quang phải phẫu thuật mở bàng quang ra da hiện chưa có di chứng. Tỷ lệ: 21%.
  • - Sẹo vết thương từ ngực xuống bụng đến đùi trái tổng chiều dài 44cm, trong đó rộng nhất 20cm và hẹp nhất 0,4cm. Tỷ lệ: 03%.
  • - Sẹo vạt da (lấy ghép da) vùng đùi phải tổng diện tích 04% diện tích cơ thể. Tỷ lệ: 3,94%.
  • - Sẹo mổ mặt ngoài đùi trái kích thước 09x0,3cm. Tỷ lệ: 02%.
  • - Sẹo mổ mặt ngoài đùi trái kích thước 1,8x0,6cm. Tỷ lệ: 02%.
  • - Sẹo mổ mặt trước đùi trái kích thước 02x1,1cm. Tỷ lệ: 02%.
  • - Sẹo mổ mặt trước đùi trái kích thước 1,2x0,3cm. Tỷ lệ: 01%.
  • - Sẹo mổ vùng hạ sườn trái kích thước 1,2x0,5cm. Tỷ lệ: 01%.
  • - Sẹo mặt sau ngoài 1/3 trên cẳng tay phải dài 12cm trong đó rộng nhất 1,5cm và hẹp nhất 0,3cm. Tỷ lệ: 03%.
  • - Sẹo mổ đặt Catheter cổ bên phải kích thước 0,4x0,2cm. Tỷ lệ: 01%.
  • - Sẹo mổ đặt Catheter cổ bên phải kích thước 0,3x0,2cm. Tỷ lệ: 01%.
  • - Sẹo mổ đặt Catheter cổ bên phải kích thước 0,3x0,2cm. Tỷ lệ: 01%.
  • - Sẹo mổ cố định ngoài khung chậu vùng mào chậu phải kích thước 3,5x0,8cm. Tỷ lệ: 02%.
  • - Sẹo mổ cố định ngoài khung chậu vùng mào chậu phải kích thước 1,5x0,3cm. Tỷ lệ: 01%.
  • - Sẹo mổ cố định ngoài khung chậu vùng mào chậu phải kích thước 2,5x0,5cm. Tỷ lệ: 01%.

Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lê Thành S1 áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là 73%.

Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả cho chủ sở hữu gồm:

  • - 01 xe ô tô biển số 61A-788.61 cho ông Phạm Văn T.
  • - 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số [...] cho anh Phạm Văn S.
  • - 01 xe ô tô biển số 61C-266.54 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định cho ông Trần Minh H1.
  • - 01 xe mô tô biển số 60H8-8396 cho anh Lê Hữu L.

Về dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại S1 yêu cầu bị cáo Bùi Thị H bồi thường chi phí điều trị thương tích và các thiệt hại khác cho bị hại S1 tổng cộng 359.517.224 đồng. Bị cáo đã bồi thường số tiền 93.800.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 472/2023/HS-ST ngày 14/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thị H 01 năm 04 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại Lê Thành S1 số tiền 265.171.224 đồng. Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm do chậm trả, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 21/9/2023, bị cáo Bùi Thị H gửi đơn kháng cáo đề nghị giảm nhẹ một phần hình, cho bị cáo hưởng án treo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo kháng cáo và có cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới, nhưng căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo gây ra cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm 04 tháng tù là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị cáo gửi đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện, phù hợp với hành vi của bị cáo được mô tả tại Cáo trạng, Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Bùi Thị H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo:

[3.1] Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại một phần chi phí điều trị thương tích với số tiền 93.800.000 đồng, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo gây ra cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được áp dụng, xử phạt bị cáo 01 năm 04 tháng tù là phù hợp.

[3.2] Bị cáo kháng cáo và cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới, thể hiện sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại thỏa thuận về việc bồi thường, theo đó bị cáo đã bồi thường tiếp số tiền 140.000.000 đồng, được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại, không yêu cầu phải bồi thường số tiền còn lại và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm mới chưa được xem xét.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, lần đầu phạm tội, do lỗi vô ý và có nhiều tình tiết giảm nhẹ như viện dẫn nêu trên, ngoài lần phạm tội này bị cáo không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nào khác, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đối với bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giáo dục cũng đủ nghiêm, phù hợp quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về điều kiện hưởng án treo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội đã biết ăn năn, hối cải.

[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận phần phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 472/2023/HS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Bùi Thị H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao Bùi Thị H cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND TP. Biên Hòa;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV27 - CA tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an TP. Biên Hòa;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Trung Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-PT ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 10/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 16/11/2022, anh Phạm Văn Sơn điều khiển xe ô tô biển số 61A-788.61 chở ông Phạm Văn Trung (cha anh Sơn) ngồi ghế trên bên phải xe, Bùi Thị Hương (mẹ anh Sơn), chị Phạm Thị Diễm (chị anh Sơn) và 01 cháu bé sinh năm 2022 (con chị Diễm) cùng ngồi hàng ghế phía sau, Hương ngồi phía bên trái xe, lưu thông trên đường Bùi Hữu Nghĩa theo hướng từ vòng xoay Hóa An đi về ngã tư Chợ Đồn. Khi lưu thông đến đoạn đường thuộc khu phố 2, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa thì cháu bé con chị Diễm bị nôn (ói) nên anh Sơn điều khiển xe ô tô dừng sát lề phải (theo hướng lưu thông). Ngay lúc xe ô tô biển số 61A-788.61 vừa dừng lại, Hương không quan sát về phía sau mà đột ngột mở cửa sau bên trái xe ô tô biển số 61A-788.61, cùng lúc này có anh Lê Thành Sang điều khiển xe mô tô biển số 60H8-8396 chở cháu Lê Bảo Duy lưu thông cùng chiều đang đi đến không kịp né tránh đụng vào cánh cửa sau bên trái xe ô tô 61A-788.61 làm anh Sang và cháu Duy ngã xuống đường. Anh Sang bị ngã về bên trái ngay phía trước bên phải đầu xe ô tô tải biển số 61C-266.54 do anh Bùi Văn Thanh điều khiển đang lưu thông cùng chiều và bị bánh trước bên phải xe ô tô 61C-266.54 đụng trúng người anh Sang gây tai nạn, làm anh Sang bị thương. Sau đó, anh Sơn, ông Trung, anh Thanh cùng người dân đưa anh Sang đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai cấp cứu, rồi anh Sang được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Quân y 7A tiếp tục điều trị thương tích.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger