Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09/01/2024

V/v: “tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Phước;
  • 2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 398/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 159/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thùy L, sinh năm 1980;
  • Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
  • * Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1980;
  • Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

(Tại phiên tòa bà Võ Thị Thùy L có mặt, ông Trần Văn Đ vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 23/8/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Thị Thùy L trình bày như sau:

Bà và ông Trần Văn Đ quen biết do tìm hiểu, quen biết nhau được mấy tháng thì tiến tới chung sống với nhau vào năm 2000, không có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2005, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang ngày 22/07/2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tới năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên gây gổ, cãi vả, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Sau đó ông Đ có người phụ nữ khác bên ngoài và bỏ nhà đi đến nay. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn Đ.

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung tên Trần Thị Bích T, sinh ngày 17/05/2005, hiện nay đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: bà xác định không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Đ đến để tiến hành hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông Đ vẫn vắng mặt không có lý do và không cung cấp lời khai.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đã vi phạm Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên: Về hôn nhân: Bà Võ Thị Thùy L được ly hôn với ông Trần Văn Đ. Về con chung: Không xem xét. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Bà L chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “tranh chấp xin ly hôn”. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo thẩm quyền.

Ông Trần Văn Đ (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Đ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Bà L và ông Đ chung sống với nhau vào năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang ngày 22/7/2005 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà L xin ly hôn nên Toà án thụ lý, giải quyết là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Trong quá trình hôn nhân, bà L trình bày do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Ngoài ra, ông Đ còn có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, bỏ nhà đi và vợ chồng sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Cuộc sống hôn nhân, vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, trở thành một tế bào của xã hội, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông Đ đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án đã triệu tập ông Đ để tham gia phiên hòa giải nhưng ông Đ vắng mặt và không trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà L thể hiện ông Đ không muốn hàn gắn. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của bà L là được ly hôn với ông Đ.

[2.2] Về con chung:

Bà L xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng ông bà có 01 con chung tên là Trần Thị Bích T, sinh ngày 17/05/2005, hiện nay đã trưởng thành và có khả năng lao động nên HĐXX không xem xét.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà L không tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa bà L và ông Đ có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Bà L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 8, 9 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thùy L.

  • - Về hôn nhân: Bà Võ Thị Thùy L được ly hôn với ông Trần Văn Đ.
  • - Về con chung: Vợ chồng ông bà có 01 con chung tên là Trần Thị Bích T, sinh ngày 17/05/2005, hiện nay đã trưởng thành và có khả năng lao động nên HĐXX không xem xét.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa bà L và ông Đ có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.
  • - Về án phí sơ thẩm: Bà Võ Thị Thùy L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012043 ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Ông Trần Văn Đ không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Bà L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND h. Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS h. Thoại Sơn;
  • - UBND xã Vĩnh Khánh;
  • - Các đương sự (Để thi hành);
  • - Lưu VP, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Mai Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với anh Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger